CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn 1. Khái niệm lao động và lao động nông thôn 1. Khái niệm lao động Trong lịch sử nghiên cứu, có nhiều quan niệm khác nhau về lao động, song theo quan điểm chung nhất, lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người với tự nhiên, nhằm thay đổi những vật thể của tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người.
Trong quá trình lao động, con người sử dụng các tiềm năng trong cơ thể tác động vào giới tự nhiên chiếm giữ những chất trong giới tự nhiên, biến đổi những chất đó làm cho chúng trở lên có ích trong đời sống của mình. Mác cho rằng lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó với sức lao động của mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ với giới tự nhiên [15, tr31]. Ngày nay, khái niệm lao động đã được mở rộng, lao động là hoạt động có mục đích của con người, bất cứ làm việc gì con người cũng phải tiêu hao một năng lượng nhất định. Tuy nhiên chỉ tiêu hao năng lượng có mục đích mới được gọi là lao động.
Theo Từ điển Tiếng Việt, lao động sản xuất là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội. Vì vậy, lao động là điều kiện không thể thiếu được của đời sống con người, lao động mãi là nguồn gốc động lực phát triển xã hội. Bởi vậy, xã hội càng phát triển thì tính chất, hình thức và phương thức tổ chức lao động càng tiến bộ. Theo Bộ luật lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi bổ sung) năm 2002 thì: “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội.
Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước”. Khái niệm lực lượng lao động Lực lượng lao động được hiểu là những người có năng lực hành vi, đủ 15-60 tuổi đối với nam (đủ từ 15-55 đối với nữ) đang có việc làm và chưa có việc làm. Ngoài ra là những người không thuộc lực lượng lao động. Khái niệm nguồn lao động Nguồn lao động là lực lượng cơ bản của hoạt động sản xuất xã hội, bao gồm toàn bộ những người có khả năng tham gia lao động.
Có hai chỉ tiêu thường dùng khi xem xét, đánh giá nguồn lao động: Thứ nhất là số lượng lao động: là toàn bộ những người trong độ tuổi qui định (nam từ 15-60 tuổi, Nữ từ 15 - 55 tuổi) có khả năng tham gia lao động. Tuy nhiên, do đặc thù của sản xuất nông nghiệp, những người không nằm trong độ tuổi lao động nhưng vẫn có khả năng tham gia lao động thì vẫn được coi là bộ phận của nguồn lao động nhưng do khả năng lao động của họ hạn chế nên họ được coi là lao động phụ. Thứ hai là chất lượng lao động: chính là sức lao động của bản thân người lao động, chất lượng lao động thể hiện ở sức khoẻ, trình độ văn hoá, nhận thức hiểu biết về khoa học kỹ thuật và trình độ kinh tế, tổ chức. Khái niệm lao động nông thôn + Khái niệm: Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn.
Lao động nông thôn chia thành 3 loại chủ yếu là những loại lao động mang lại thu nhập cho người lao động từ 70% trở lên từ ngành đó, các loại lao động chủ yếu đó là: lao động nông nghiệp (LĐ thuần nông), lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng, lao động Thương mại và dịch vụ + Đặc điểm của lao động nông thôn: Cơ cấu lao động làm nông nghiệp chiếm đến 90% lao động nông thôn, do đó mà đặc điểm của nguồn lao động nông thôn cũng tương đồng với đặc điểm của lao động trong sản xuất nông nghiệp. Đặc điểm của lao động nông thôn: 7 Thứ nhất: Là mang tính chất thời vụ cao và không thể xóa bỏ được tính chất này. Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các qui luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (khí hậu, đất đai,…). Do đó, quá trình sản xuất mang tính thời vụ cao, thu hút lao động không đồng đều.
Chính vì tính chất này đã làm cho việc sử dụng lao động ở các vùng nông thôn trở nên phức tạp hơn. Thứ hai: Lao động nông thôn rất dồi dào và đa dạng về độ tuổi và có thích ứng lớn. Do đó, việc huy động và sử dụng đầy đủ nguồn lực lao động có ý nghĩa rất quan trọng và phức tạp, đòi hỏi phải có biện pháp tổ chức quản lý lao động tốt để tăng cường lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp. Thứ ba: Lao động nông thôn đa dạng, ít chuyên sâu, trình độ thấp.
Mỗi lao động có thể đảm nhận nhiều công việc khác nhau nên lao động nông thôn ít chuyên sâu hơn lao động trong các ngành công nghiệp và một số ngành khác. Bên cạnh đó, phần lớn lao động nông nghiệp mang tính phổ thông, ít được đào tạo, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệm và sức khỏe, tổ chức lao động đơn giản, công cụ lao động cũng thô sơ mang tính tự chế cao. Lực lượng chuyên sâu, lành nghề, lao động chất xám không đáng kể, phân bố lao động không đồng đều, vì vậy mà hiệu suất lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu công nghiệp hiện đại vào sản xuất. + Vai trò của lao động nông thôn: Như trên đã trình bày, lao động nông thôn cũng là một loại lao động, là yếu tố cần thiết của quá trình sản xuất.
Tuy nhiên, do khu vực nông thôn có đặc thù riêng biệt tạo lên đặc điểm riêng biệt và có các loại lao động khác nhau. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang thực hiện CNH - HĐH đất nước, trong đó CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn được đặc biệt quan tâm. Vì vậy lao động nông thôn có vai trò hết sức quan trọng nó được thể hiện qua các mặt sau: - Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình phát triển các ngành trong nền kinh tế quốc dân 8 Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, nguồn lực trong nông nghiệp có số lượng lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động xã hội. Song, cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá, nguồn nhân lực trong nông nghiệp vận động theo xu hướng giảm xuống cả tương đối và tuyệt đối.
- Nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất lương thực thực phẩm: Nước ta là một nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời, dân số sống chủ yếu bằng nghề nông. Vì vậy, nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất nông nghiệp là rất đông đảo. Cùng với sự đi lên của nền kinh tế và sự gia tăng về dân số thì nhu cầu về lương thực thực phẩm ngày càng gia tăng. Việc sản xuất lương thực thực phẩm chỉ có thể đạt được trong ngành nông nghiệp và sức lao động để tạo ra lương thực, thực phẩm là do nguồn lao động nông thôn cung cấp.
- Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản: Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với các yếu tố đầu vào là các sản phẩm mà người lao động nông thôn làm ra. Trong thời kỳ CNH - HĐH thì phát triển công nghiệp chế biến là rất quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp - Lao động nông thôn là thị trường tiêu thụ sản phẩm của các ngành khác: Lao động nông thôn là thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn của các ngành khác và của chính bản thân ngành nông nghiệp. Khái niệm cơ cấu lao động, chuyển dịch, chuyển dịch cơ cấu lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn 1. Khái niệm cơ cấu lao động Cơ cấu lao động được hiểu là tổng thể các mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận lao động trong tổng nguồn lao động xã hội và được biểu hiện thông qua những tỷ tệ nhất định.
Về thực chất, cơ cấu lao động là một đại lượng kinh tế phản ánh số lượng các bộ phận hợp thành nguồn lao động và mối quan hệ tương tác về tỷ lệ giữa các bộ phận ấy trong tổng nguồn lao động xã hội. Các loại cơ cấu lao động: Cơ cấu lao động chia theo ngành kinh tế, cơ cấu lao động chia theo giới tính, cơ cấu lao động chia theo theo độ tuổi, cơ cấu lao động chia theo trình độ văn hoá, cơ cấu lao động chia theo trình độ chuyên môn. Khái niệm chuyển dịch Chuyển dịch được hiểu ở hai khía cạnh: thứ nhất, đó là sự thay đổi từ vị trí này sang vị trí khác; thứ hai, đó là quá trình làm biến đổi các yếu tố trong cấu trúc và mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành một tổng thể theo chủ đích và phương hướng xác định. Như vậy, có thể hiểu chuyển dịch là chuyển từng quãng ngắn hoặc làm thay đổi cơ cấu thành phần.
Khái niệm chuyển dịch cơ cấu lao động Chuyển dịch cơ cấu lao động chính là quá trình phân phối bố trí các nguồn lao động theo những quy luật, những xu hướng tiến bộ… nhằm sử dụng đầy đủ và có hiệu quản nhất các nguồn lao động thúc đẩy và tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Chuyển dịch cơ cấu lao động được xem xét sự biến đổi cấu trúc lực lượng lao động. Vì vậy, có thể định nghĩa chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn là quá trình biến đổi, chuyển hoá khách quan từ cơ cấu lao động cũ sang cơ cấu lao động mới tiến bộ hơn, phù hợp quá trình và trình độ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Khái niệm việc làm, thất nghiệp, thu nhập 1.
Khái niệm việc làm Theo giáo trình Kinh tế lao động của Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, khái niệm việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người.