Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng tuyên truyền giáo dục tư tưởng, lối sống cho thanh niên trên báo in Báo Bạc Liêu, Báo Cà Mau. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả tuyên truyền giáo dục tư tưởng, lối sống cho thanh niên trên báo in. 13 Luận văn thạc sĩ Báo chí học Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Hệ thống một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Báo in Báo in là một trong những loại hình của báo chí, là phương tiện truyền thông không thể thiếu của đời sống xã hội. Báo in một thời đã ở đỉnh cao. Tuy nhiên, với sự ra đời của phát thanh, truyền hình, đặc biệt là báo mạng điện tử đã làm cho báo in ngày càng khó khăn.
Đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về báo in: Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí”, định nghĩa: “Báo in là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, bằng ký hiệu chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các sự kiện và vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng - nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định” [15, tr. Hà Huy Phượng trong cuốn “Giáo trình nhập môn báo in” thì cho rằng: “Báo in là thuật ngữ chỉ một loại hình báo chí định kỳ thông tin thời sự các sự kiện, các vấn đề trong đời sống xã hội thông qua việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết và kỹ thuật in ấn để chuyển tải thông tin”. Điều 3 Luật Báo chí năm 2016 định nghĩa: “Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in”. * Thế mạnh và hạn chế của báo in Thế mạnh thứ nhất là báo in có thể thông tin, phân tích, giải thích và giải đáp những vấn đề phức tạp một cách hệ thống, sâu sắc với độ tin cậy cao.
Báo in tác động vào thị giác do đó có lợi thế thu phục lý trí và tình cảm con người bằng tính logic và chiều sâu của nghệ thuật lập luận, thông qua các luận điểm, luận cứ, luận chứng và số liệu chân thực. Thứ hai, người đọc có thể hoàn toàn chủ động về không gian, thời gian và tư thế trong việc tiếp nhận thông tin. Mặt khác, có thể đọc đi đọc lại một ấn phẩm để nhận thức, khai thác các tầng nấc thông tin về những vấn đề phức tạp, tế nhị. Chính 14 Luận văn thạc sĩ Báo chí học lợi thế này đặt yêu cầu và tính chuyên nghiệp cao cho những người làm báo in trong quá trình cạnh tranh thông tin hiện nay.
Thứ ba, thông tin báo in có độ tin cậy, chính xác và tư liệu cao, dễ bảo quản, nhất là đối với một nước ở trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm như nước ta. Do đó, người ta còn cho rằng nhà báo là nhà chép sử, là người thư ký của thời đại. Mỗi số báo là một tờ lịch cuộc sống. Hiện nay, với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, việc lưu trữ các dữ liệu trên máy tính và phương tiện khác rất thuận tiện nhưng tư liệu báo in vẫn còn sức nặng riêng của nó.
Thứ tư, có thể dễ dàng chuyền tay nhau các ấn phẩm báo in và bản tin thời sự, do công chúng trực tiếp có khả năng lây lan kết nối với công chúng gián tiếp, hình thành dư luận xã hội bền vững hơn. Thứ năm, đề tài và nguồn tin trên báo in có thể là nguồn tin cho các loại hình báo chí khác khai thác, phát triển, nhất là truyền hình. Bên cạnh những thế mạnh trên, thì báo in cũng có những điểm hạn chế của nó. Thứ nhất, tính thời sự của thông tin chậm.
Chu kỳ xuất bản hiện nay ngắn nhất là từ 24 đến 12 giờ, trong khi tốc độ phát triển cuộc sống ngày càng nhanh, nhu cầu thông tin của công chúng cập nhật đòi hỏi ngày càng cao trong điều kiện có sự hỗ trợ tối đa của kỹ thuật, công nghệ truyền thông cùng với các công cụ hỗ trợ mềm. Thứ hai, ký hiệu thông tin của báo in đơn điệu, chỉ có chữ viết và hình ảnh tĩnh, nếu kỹ năng xử lý thông tin bằng ngôn từ không cao và kỹ thuật viết và trình bày, in ấn không bắt mắt sẽ hạn chế tính hấp dẫn. Thứ ba, việc phát hành báo in tốn kém, chậm chạp, cồng kềnh, phụ thuộc vào phương tiện vận tải, đường sá giao thông và các điều kiện tự nhiên. Thứ tư, báo in nhìn chung đắt hơn các ấn phẩm truyền thông khác.
Mỗi tờ báo, một tháng phải chi tới hàng chục ngàn đồng. Mức chi này khổng phả nhóm công chúng nào củng đáp ứng được, đặc biệt là nông dân và dân nghèo thành thị. Do đó, báo in không chỉ kén chọn công chúng từ bình diện trình độ văn hóa mà còn cả mức sống và điều kiện sống. * Vai trò và chức năng giáo dục của báo in nói riêng và báo chí nói chung - Vai trò 15 Luận văn thạc sĩ Báo chí học Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay đã tạo điều kiện cho các loại hình báo chí, trong đó có báo in ngày càng phát triển và trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng.
Báo chí tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, an ninh quốc phòng, chính trị. Và ngày càng phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN. Trong công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại với việc tham gia mạng thông tin điện tử toàn cầu, mở rộng diện phủ sóng truyền hình và sóng phát thanh tới một số nước trong khu vực và trên thế giới, báo chí đã góp phần quan trọng trong thực hiện đường lối đối ngoại và chủ trương hội nhập của Đảng, Nhà nước ta. Trong lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao vai trò và sức mạnh to lớn của báo chí.
Đảng ta đã khẳng định: “Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân”. Trong chiến tranh vai trò của báo chí càng thể hiện đậm nét như Lênin đã nói: “Báo chí là trận địa ban đầu, từ đó Đảng sẽ tiến hành cuộc đấu tranh với vũ khí của mình bằng vũ khí tương xứng. Báo hàng ngày là công cụ tuyên truyền cổ động quần chúng không có gì thay thế được”. Hay trong thư Bác Hồ gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng tháng 6/1949 như sau: “Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện và tổ chức dân chúng đưa dân chúng đến mục đích chung”.
Trong bài “Cần xem báo Đảng đăng trên Báo Nhân dân ngày 24/6/1954”, Bác viết: “Tờ báo Đảng là những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp. Nó dạy chúng ta cần biết làm về tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác hằng ngày nó giúp nâng cao trình độ chính trị và năng suất và công tác của chúng ta”. Ngày nay, trong sự nghiệp CNH-HĐH, khi quy mô phát triển báo chí ngày càng lớn, khả năng tác động của báo chí ngày càng rộng, sức thuyết phục lôi cuốn báo chí ngày càng mạnh, báo chí có vai trò và ý nghĩa xã hội ngày càng lớn hơn.Vai trò của báo chí bị quy định không chỉ bởi quy mô, phạm vi tính chất hoạt động mà còn là khuynh hướng nội dung của nó. Khi quá trình toàn cầu hóa thông tin báo chí đã trở thành hiện thực sinh động, các phương tiện truyền thông đại chúng phá vỡ những biên giới quốc gia truyền thông, khắc phục được những khoảng không gian địa lí trên quy mô trái đất.
Trong điều kiện đó, nhiệm vụ đặt ra cho báo chí nặng nề 16 Luận văn thạc sĩ Báo chí học và phức tạp hơn. Báo chí một mặt cần tận dụng, xử lý tốt lượng thông tin quốc tế nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin phong phú của xã hội, mặt khác cần đảm bảo cơ cấu nội dung và chất lượng thông tin để hình thành dư luận xã hội tích cực, nâng cao trình độ nhận thức, xây dựng và phát triển đất nước, vạch mặt, chống lại có hiệu quả những tư tưởng phản động, những âm mưu thù địch phá hoại nhằm bảo vệ vững chắc chế độ XHCN. Xã hội càng phát triển thì những nhu cầu thông tin báo chí càng lớn, đòi hỏi sự tăng cường cả về số lượng và chất lượng của hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng. Cuộc sống của con người càng nâng lên thì nhu cầu tìm hiểu về thông tin, các vấn đề, sự kiện xung quanh cuộc sống thực tại cũng ngày càng cao.
Thông qua đó, người ta có thể cải thiện tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm sống. Báo chí chính là “cây gậy” chỉ đường rẽ lối đưa con người tiến kịp với xu thế thời đại. Với vai trò đó, báo chí cách mạng Việt Nam đã và sẽ không ngừng phát triển cung cấp thông tin kịp thời đưa nền văn minh nhân loại vào đất nước. Đồng thời, báo chí còn là “cánh tay đắc lực” của Đảng và Nhà nước thực hiện chức năng giáo dục tư tưởng; chức năng thông tin - giao tiếp; chức năng khai sáng, giải trí; chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội… Có thể nói, ở mỗi thời điểm lịch sử khác nhau vai trò của báo chí đối với đời sống xã hội nói chung, đối với sự nghiệp cách mạng nói riêng được thể hiện với những màu sắc khác nhau.
Song tất cả đều nhằm vào mục tiêu chung, đó là đấu tranh cho độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, cho quyền tự do và hạnh phúc của nhân dân. - Chức năng giáo dục của báo chí + Giáo dục chính trị tư tưởng Từ quan niệm “Báo chí là công cụ tư tưởng sắc bén của Đảng” đến quan điểm “Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, đồng thời là diễn đàn của nhân dân” đã thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa báo chí với Đảng và Nhà nước. Mối quan hệ đó được thể hiện ở chỗ: Báo chí thay mặt Đảng làm công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho nhân dân. Giáo dục chính trị tư tưởng nhằm biến những tri thức mà mỗi con người thu nhận được thành chất lượng nội tại, thành quan điểm và lập trường tích cực của bản 17 Luận văn thạc sĩ Báo chí học thân mỗi người.