Đặt vấn đề Công nghệ cấy truyền phôi (CTP) là lĩnh vực công nghệ sinh học để điều khiển sinh sản hiện đại, ở đây bao gồm nhiều kỹ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như: gây rụng trứng nhiều (GRTN), gây động dục đồng pha, cấy truyền phôi, xác định giới tính của phôi… Để cấy truyền phôi đạt kết quả tốt thì trước hết phải có phôi đảm bảo chất lượng để cấy truyền. Phôi dùng trong CTP chủ yếu là từ phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm và GRTN. Trong đó phôi được tạo ra từ thụ tinh trong ống nghiệm chủ yếu được áp dụng đối với con người, ở vật nuôi loại phôi này chỉ đáp ứng được 5% nhu cầu phôi, vì thế phần lớn số phôi sử dụng được tạo ra bằng phương pháp GRTN. Ở vật nuôi công nghệ cấy truyền phôi được áp dụng chủ yếu trên đối tượng gia súc đơn thai, có hệ số nhân giống thấp vì sự rụng trứng luôn bị giới hạn bởi các đặc điểm di truyền của loài, giống, cá thể, đặc biệt với những cá thể, dòng, giống có năng suất cao.
Hiện nay, ở nước ta, việc áp dụng công nghệ cấy truyền phôi chủ yếu nghiên cứu trên bò sữa. Để áp dụng công nghệ này, trước hết cần GRTN. Thông qua việc tác động hormone để kích thích nhiều noãn bào phát triển cùng lúc, nhằm tạo ra hàng loạt tế bào trứng phát triển, chín và rụng mà lẽ ra chúng bị thoái hóa trong chu kỳ động dục tự nhiên. Những tế bào trứng này khi được thụ tinh sẽ tạo ra phôi, phôi được thu để sử dụng trong CTP.
Trên thế giới, GRTN đã được Cole và Hart (1930) nghiên cứu và áp dụng trên thỏ, đến nay GRTN vẫn tiếp tục được nghiên cứu mở rộng trên nhiều đối tượng và đã thu được những thành tựu lớn. Ở Việt Nam, từ đầu những năm 1990 các tác giả bắt đầu nghiên cứu và đã thu được các kết quả có ý nghĩa như Bùi Xuân Nguyên, Nguyễn Thị Ước, Hoàng Kim Giao, Đỗ n 2 Kim Tuyên… Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu rất biến động nên GRTN vẫn đang là vấn đề cần nghiên cứu. Trong chăn nuôi công nghệ CTP có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu quả chọn lọc, làm tăng nhanh số lượng, chất lượng đàn vật nuôi đáp ứng nhu cầu của xã hội. Cùng với kỹ thuật đông lạnh cấy truyền phôi là giải pháp tích cực để bảo vệ những nguồn gen quý, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi đặc biệt là ở các động vật đơn thai như trâu, bò cũng như giữ gìn sự đa dạng sinh học về nguồn gen động vật nói chung, vật nuôi nói riêng.
Chúng ta biết rằng, những biểu hiện và đặc điểm sinh lý sinh dục nói chung, đặc điểm động dục và rụng trứng ở bò cái nói riêng, chịu ảnh hưởng rất lớn bới các yếu tố ngoại cảnh. Để làm chủ công nghệ CTP, nâng cao hiệu quả của công nghệ này trong chọn lọc, nhân giống bò sữa, cần phải có những nghiên cứu mở rộng và thử nghiệm các phương pháp tác động hormone, để tìm ra giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu Việt Nam. Trong quá trình chọn lọc giống bò sữa nói chung, nuôi thích nghi và chọn lọc giống bò sữa Holstein Friesian (HF) nhập nội nói riêng trong cả nước, trong giai đoạn 2011 - 2014, Bộ KH&CN đã phê duyệt Đề tài “Nghiên cứu tạo bê sữa cao sản bằng kỹ thuật chia tách phôi”. Tỉnh Tuyên Quang là địa bàn miền núi có đàn bò sữa HF có nguồn gốc nhập ngoại, có năng suất sữa cao, được xác định là địa bàn triển khai nghiên cứu của đề tài trên do Viện Chăn nuôi chủ trì phối hợp với Viện Công nghệ sinh học.
Xuất phát từ các điều kiện trên và yêu cầu của công tác nhân giống bò sữa đặt ra tại Tuyên Quang, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Ảnh hưởng của một số yếu tố tới hiệu quả gây rụng trứng nhiều và gây động dục đồng pha để nhân giống bò sữa Holstein Friesian". Mục tiêu của đề tài - Xác định được ảnh hưởng của các yếu tố: Loại hormone sử dụng, mùa vụ tới số lượng và chất lượng phôi thu được từ bò gây rụng trứng nhiều. - Đánh giá được kết quả gây động dục đồng pha trên đàn bò nhận phôi. - Đánh giá được kết quả thụ thai trên đàn bò nhận phôi.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Việc nghiên cứu, đánh giá, áp dụng có hiệu quả công nghệ cấy truyền phôi để chọn lọc và nhân nhanh số lượng bò sữa HF nhập ngoại nuôi trong điều kiện chăn nuôi miền núi tỉnh Tuyên Quang. Góp phần phát triển vùng sản xuất bò sữa chất lượng cao tại tỉnh Tuyên Quang. Ý nghĩa thực tiễn - Nắm vững và thực hành tốt quy trình gây rụng trứng nhiều và quy trình gây động dục đồng pha để áp dụng có hiệu quả, trong nhân giống đàn bò sữa HF.
- Đánh giá được hiệu quả của việc áp dụng kỹ thuật nghiên cứu gây rụng trứng nhiều và gây động dục đồng pha trên bò sữa HF ở Tuyên Quang. - Trong thời gian ngắn tạo ra được một lượng lớn phôi có chất lượng tốt. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc đánh giá đúng kết quả của phương pháp sử dụng hormone vè yếu tố mùa vụ tới kết quả gây rụng trứng nhiều và gây động dục đồng pha, từ đó có định hướng đúng đắn cho việc áp dụng công nghệ cấy truyền phôi trên đàn bò sữa HF ở Tuyên Quang. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục cái Sinh sản là hoạt động chức năng để duy trì nòi giống ở động vật và đó là kết quả của hàng loạt quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể, trong đó có hoạt động của cơ quan sinh dục của gia súc cái. Ở bò cái cơ quan sinh dục của nó mang đặc tính chung của loài và chia làm 2 bộ phận sau: Bộ phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình), bộ phận sinh dục bên trong (âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng).1: Cơ quan sinh dục bò cái 1. Các bộ phận sinh dục bên ngoài a.
Âm môn hay âm hộ (Vulva): Dưới hậu môn là âm môn, phía ngoài âm môn có 2 môi (Labia vulva), nối liền môi bằng 2 mép (Bima vulvae). n 5 Trên hai môi của âm môn có sắc tố đen và nhiều tuyến tiết, tiết chất nhờn trắng và tiết mồ hôi. Âm vật (Clitoris): Âm vật giống như dương vật thu nhỏ, trong cấu tạo âm vật cũng có các thể hổng như con đực. Trên âm vật có nếp da tạo ra mu âm vật (Praepatium clitoridis), âm vật bẻ gập xuống dưới.
Tiền đình: Là giới hạn giữa âm môn và âm đạo. Trong tiền đình có màng trinh, phía trước màng trinh là âm môn, phía sau màng trinh là âm đạo, màng trinh có các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp. Sau màng trinh có lỗ niệu đạo. Các bộ phận sinh dục bên trong a.
Âm đạo là một cái ống tròn để chứa cơ quan sinh dục khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong qua trình đẻ. Kích thước âm đạo của bò là từ 22-25cm (Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, 1997) [6]. Tử cung (Uterus): Tử cung trâu bò hình sừng cừu, thân tử cung ngắn, hai sừng tử cung dài, lớp niêm mạc trong tử cung và trên hai sừng tử cung có gấp nếp nhiều lần tập trung lại với số lượng từ 80-120 (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [4], đây là tiền thân của núm nhau mẹ. - Cổ tử cung (Cervix): Có dạng hình tròn, luôn luôn đóng, chỉ mở khi nào có hưng phấn cao độ, hoặc lúc sinh đẻ hay khi bệnh lý.
Niêm mạc cổ tử cung trâu bò gấp nếp nhiều lần, từ 3-5 lần gọi là nhiều lần hoa nở. Có sự khác biệt về cổ tử cung giữa bò già và bò chưa trưởng thành, giữa bò ít đẻ và bò đẻ nhiều, giữa các giống bò, giữa bò đẻ bình thường và bò đẻ không bình thường. Cổ tử cung dài khoảng 5-10 cm, đường kính từ 2-5 cm (Kunittada Sato, 1992) [75]. - Thân tử cung (Body uterus): Thân tử cung nối giữa cổ tử cung với sừng tử cung, có kích thước rất ngắn, chỉ khoảng 2-4cm.
Thân tử cung được cấu tạo n 6 bởi những lớp cơ trơn dày, cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài, lớp niêm mạc tử cung có các tuyến sinh dục có khả năng tiết ra những chất giúp cho sự vận động của tinh trùng cũng như sự phát triển của thai (Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương, 1997) [6]. - Sừng tử cung (Horn uterus): Bò cái có hai sừng tử cung trái và phải, độ dài của sừng tử cung khoảng 15-20cm (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [4]. Hai sừng tử cung của bò cái gắn với thân tử cung dính lại với nhau tạo thành một lõm hình lòng máng phía trên của tử cung gọi là rãnh giữa tử cung, dài 3-5cm, rãnh này dễ dàng nhận thấy khi khám qua trực tràng để chẩn đoán gia súc có thai và bệnh lý ở tử cung. Buồng trứng (Ovarium): Buồng trứng bò hình bầu dục, thường là màu trắng không có lõm rụng trứng.
Vị trí buồng trứng bò thường nằm ở hai mút sừng tử cung, gần cạnh trước xương ngồi, hay ở phía dưới sừng tử cung. Kích thước buồng trứng (1-2) x (1-1,5) x 1,5cm (Nguyễn Tấn Anh và cs, 1995) [1]. Buồng trứng của gia súc có chức năng sinh ra trứng và phân tiết các hormone (Lưu Công Khánh, 1996) [12]. Bên dưới lớp màng của buồng trứng là tế bào trứng non (Folliculin ovocyt primario).
Khi noãn bào chín thì các tế bào nang bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tầng tế bào có hình hạt (Stratum granulosum). Noãn bào ngày càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo ra một cái xoang có chứa dịch (Liquar folliculin). Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên tạo ra một lớp màng bao bọc ở ngoài, có chỗ lồi lên để chứa tế bào trứng (Ovum). Noãn bao nguyên thuỷ khi trở thành noãn bào chín (Follinculis ovaricus vesiculosus) được bao bọc một lớp màng mỏng.
Tổ chức màng liên kết buồng trứng lúc này dày lên để bảo vệ noãn bào chín, giữa màng bảo vệ liên kết và màng mỏng của noãn bào là tổ chức mạch quản dày đặc. Noãn bào chín nằm ở phần lồi trên của màng liên kết buồng trứng. Noãn bào chín có kích thước 1cm.