Phần mở đầu và Kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương chính, ba o gồm: Chương1: Lý thuyết tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng k nh tế. Tác giả tập trung giải quyết cơ sở khoa học về mối quan hệ giữa đâu kư, đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế dưới góc độ ly luận vệ cặc nhân tổ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, vai trò của đầu tư trực tiêp nước ngoài, khái luận các nghiên cứu trước về mối liên hệ giữa đâu tư trực tiếp hước ngoài và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam SVTH: Nguyễn Thanh Nguyên Luận văih Thạc sĩ— Cao học K16 4 hương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Long An từ 1991 đến 2010. Đánh giá phân tích định tính và phân tích định lượng tác động của đâù tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Long An. thương 3: Gợi ý chính sách thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư lrực tiếp nước ngoài tại tỉnh Long An, SVTH: Nguyện Thanh Nguyên Ludn van Thac si— Cao hoc K16 5 CHUONG 1 LY THUYET VE DAU TU, DAU TU TRUC TIEP NUGC NGOAI VA TANG TRUONG KINH TE 1.
Ly thuyét vé đầu tư và tăng trưởng kinh tế 1. Một số khái niệm †. Đầu tư Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoật động nào đó nhăm thu về các kết quả nhất định trong tương la! lớn hơn cát nguồn lực đã bỏ ra dé đạt được các kết quả đó. Nguôn lực hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên hoặc là sức lao động và trí tuệ.
Đầu tư là phần sản lượng được tích lũy nhằm để gia tăng năng lực sản xuất tường lai của nền kinh tế (Sach-Larrain 1993). Sản lượng ở đây có thể do nên kih tế tự sản xuất hay là do nhập khẩu từ bên ngoài, có thể là các sản phẩm Hữu hình như máy móc, thiết bị. hay là các sản phẩm vô hình như bang phat minh, sáng chế. Hau tu dem lai cdc két quả không chỉ trực tiếp làm tăng tài sản của chủ thể đầu|tư mà của cả nền kinh tế là đầu tư phát triển.
Đầu tư chỉ trực tiếp làm tăng tài sản chính của chủ thể đầu tư, tác động gián tiếp làm tăng tài sản của nên kinh tế thông qua sự đóng góp tài chính tích lũy của các hoạt động đâu tư này chd đầu tư phát triển, cung cấp vốn cho hoạt động đầu tư phát triển và thúc đây quá trình lưu thông phân phối các sản phẩm do đầu tư phát triển tạo ra la dap tư tài chính và đầu tư thương mại. SVTH: Nghyên Thanh Nguyên Luận văn Thạc sĩ— Cao học K16 (Căn cứ vào các kết quả của hoạt động đâu tư, bản chất và lợi ích do dau tư man iy =] lại, có thê chia đâu tư ra làm ba loại: + Đầu tư phát triển: là những hoạt động đầu tư tạo ra tài sản mới cho nên kin h tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điêu kiện chủ yêu đê tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân troàg xã hội. + Đầu tư tài chính: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay hoặc m Wa các giấy tờ có giá để hưởng lãi suất định trước hay lãi suất tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ quan phát hành. Đầu tư tải c Tn (không xét quan hệ quốc tế) không tạo ra tài sản mới cho nền kinh té ma cl ni làm tăng giá trị tài sản tài chính của các tổ chức cá nhân, Với sự hoạt độn \g của hình thức đầu tư này, vốn được luân chuyển dễ dàng, thực sự là nguôn cị ng cap von quan trong cho dau tu phát triển.
+ Dau tu thương mại: là hình thức đầu tư trong đó người có tiền mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận chênh lệch giữa gia mua Và giá bán. Đầu tư thương mại (không xét ngoại thươn g) không tạo ra tai san m ới cho nên kinh tế mà chỉ làm tăng tài sản chính của nhà đầu tư trong quá trình mua đi bán lại. Tuy nhiên, đầu tư thương mại có tác dụng thúc đây quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra. Từ đó thúc đây đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích lũy vốn cho nền sản xuất xã hội.
Bai loại đâu tư trên luôn tôn tại và có mối quan hệ tương hỗ với nhau, trong đó đầu tư phát triển là cơ bản nhất, tạo tiền đề để tăng tích lũy, phát triên hoạ {eng đầu tư tài chính và đầu tư thương mại. SVTH: Nguyễ Thanh Nguyên Luận văn Thạc sĩ— Cao học K16 7 1. Nguôn vẫn đầu tư Nếu xét trên tông thể nền kinh tế thì nguồn vốn đầu tư bao gồm hai loại sau: n‡uồn trong nước tiết kiệm được và nguồn từ nước ngoài đưa vào. Nguôn|từ nước ngoài đưa vào có thể dưới dang: dau tu trực tiếp, đầu tư gián tiếp, các khoản vay nợ và viện trợ, tiền kiều hối và thu nhập do nhân tố từ nước nboài chuyên về.
Có thể chia vốn đầu tư làm 2 loại là đầu tư của khu vực doành nghiệp và cá nhân (khu vực tư) và đầu tư của khu vực nhà nước (khu vực công). Nguôn vốn đầu tư của khu vực tư: trên lý thuyết thì nguồn đầu tư của khủ vực tư (Ip) được hình thành từ tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và của cá mhan (Sp) và luồng vốn của nước ngoài đỗ vào khu vực này (Fp): Ip =Sp+Fp Sp= Yp* —Cp Trong dé: YpỶ là thu nhap kha dung; Cp là tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình NEuôn tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và cá nhân thường là nguôn chủ yêu| trong nên kinh tế. Nguồn vốn của nước ngoài đô vào khu vực tư thường ở các dạng như đầu tư nước ngoài và các khoán nợ. Ludn van Thac st-— Cao hoc K16 8 {rong đó: T là các khoản thu của khu vực nhà nước; Cg là các khoản chỉ tiêu của khu vực nhà nước không kê chỉ đầu tưi Chênh lệch giữa khoản thu và chỉ nay là tiết kiệm của khu vực nhà nước; Fg là các khoản viện trợ và vay nợ từ nước ngoài vào khu vực nhà nước.
Tăng trưởng kinh tế giữa các thời kỳ. Hệ phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùng hai chỉ tiêu tổng hợp chủ yếu là tổng sản phẩm quốc nội và tong san pham quéc dan: +/Téng san phẩm quốc nội (GDP): là một chỉ tiêu kinh tế đo lường tông giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thé quốc = trong thời kỳ nhất định (thường là 01 năm). Đây là tổng giá trị hàng hóa và ich vụ được sản xuất bên trong lãnh thổ quốc gia, bat ké người sản xuất thuộc quốc tịch nào. +|Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): là một chỉ tiêu kinh tế đo lường tong giá|trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà quốc gia đó sản xuất trong một thời kỳ (thường là 01 năm) bằng các yếu tố sản xuất của chính mình.
Đây là tong gidltri hàng hóa và dịch vụ do những người có cùng quốc tịch tạo ra, bất SVTH: Nguiễn Thanh Nguyên Luận văn Thạc sĩ —- Cao học K16 kế hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành bên trong hay bên ngoài quôc gi h đó. eo quan điểm của tác giả, tăng trưởng kinh tế là là sự tăng lên của tông § phẩm quốc nội bình quân đầu người. Vì thế, tốc độ tăng trưởng kinh tế được đo bằng tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người h Ang nam. Nguồn gốc tăng trướng và một số mô hình 1 1.
Nguôn gốc tăng trưởng kinh tế T ăng trưởng kinh tế có nghĩa là gia tăng tông sản lượng quốc gia trong một thời kỳ nhất định. Sản lượng được tạo ra từ sản xuất, như vậy, nguồn gốc của tăng trưởng xuất phát từ quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất là quá trình mà trong đó các yếu tổ đầu vào được phối hợp theo những cách thức tốt nhất đề tao r4 khôi lượng sản phâm. Nêu xét ở góc độ phạm vi toàn bộ nên kinh tê thì việc | ạo ra tông sản lượng quốc gia sẽ có quan hệ phụ thuộc vào các nguồn lực đầu : bào của quốc gia.
Một sự thay đôi tông sản lượng quốc gia khi có sự thay đổi các nguôn lực đâu vào. Các lý thuyết tăng trưởng ra đời phân tích nguồn gốc của tăng trưởng với nhiề h quan điêm khác nhau, mỗi lý thuyết đêu có sự khám phá mới, nhưng tr En can ban van là phân tích môi quan hệ đâu ra với đâu vào. M bi quan hệ đầu ra (GDP, GNP) với đầu vào được khái quát qua hàm sản xuât ‡ Y =F(Xi) với i= I,2,.n in Thanh Nguyên Luận văn Thạc sĩ— Cao hoc K16 10 XI là yêu tô đầu vào Hâu hệt các nhà kinh tê học thông nhât các yêu tô đâu vào cơ bản của nén ki nh tế, bao gồm: (1) Vốn sản xuất là yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất dé tao ra tông sản lượng quốc gia gọi là K (2) Lao động là yếu tô sản k uất đặc biệt có ảnh hưởng quan trọng đến gia tăng sản lượng quốc gia gọi là L (3) Đất đai nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên khác là tư liệu sản xuất 8 p phân làm gia tăng sản lượng quốc gia gọi là R (4) Công nghệ là đầu Vào q trọng làm thay đổi phương pháp sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng sản lượng quốc gia gọi là T. Như vậy hàm sản xuất tổng hợp được thê hiện: Y =F(K, L, R,T) àm sản xuất cho thấy tăng trưởng tổng sản lượng phụ thuộc vào quy mô, chất lượng của các yếu tô đầu vào K, L, R, T và cách thức phối hợp chúng.
Mỗi yếu tố giữ một vai trò nhất định và có tác động qua lại lẫn nhau, tuy the b mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, có thể yếu tố nào đó được dé cao hơn yết tố khác nhưng không có nghĩa là phụ thuộc duy nhất vào một yếu tố. \ Igoài các yếu tố trên, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào những yếu t6 phi k inh tế khác như: thể chế kinh tế chính trị, đặc điểm về văn hoá-xã hội, tôn giáa '.