LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài luận văn Nhờ chính sách mở cửa, từ sau đổi mới, Việt Nam đã có những thay đổi vượt bậc về phát triển kinh tế - xã hội. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một trong những chính sách đã và đang mang lại hiệu quả tốt cho phát triển kinh tế. Vai trò của FDI được thể hiện rất rõ, tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với dòng vốn FDI nhận được. FDI giúp tăng cường năng lực sản xuất và đổi mới công nghệ của nhiều ngành kinh tế, đóng góp cho ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho một bộ phận người lao động.
Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong 8 năm kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc, cụ thể từ năm 2007 cho đến 2012, vốn FDI luôn chiếm tỷ trọng từ 21-30% trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội; đóng góp 18% GDP, từ 64-67% trong kim ngạch xuất khẩu; từ 12-14% trong đóng góp cho ngân sách.Ngoài ra, khu vực FDI còn tạo ra hơn 2 triệu việc làm trực tiếp và hàng triệu việc làm gián tiếp cho nền kinh tế. Cùng những thành tựu về phát triển kinh tế do FDI đem lại, Việt Nam đã và đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp FDI gây ra. Tuy nhiên, không thể khẳng định rằng tất cả các doanh nghiệp FDI đều gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường chỉ xảy ra ở các doanh nghiệp FDI không quản lý tốt môi trường doanh nghiệp, xả chất thải ra môi trường. Vì vậy, quản lý môi trường trong các doanh nghiệp FDI là rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới việc doanh nghiệp có thể đảm bảo tốt tình trạng môi trường của doanh nghiệp hay không.
Hiện nay, hoạt động quản lý môi trường trong doanh nghiệp được các doanh nghiệp FDI quan tâm với mức độ khác nhau, cùng với đó, quản lý môi trường của doanh nghiệp FDI còn chịu tác động thể thể chế quản lý môi trường ở Việt Nam cũng như đặt trong sự phát triển chung của nền kinh tế. Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, em lựa chọn đề tài luận văn "Quản lý môi trường trong các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam" nhằm nghiên 10 cứu, đánh giá thực trạng quản lý môi trường của các doanh nghiệp FDI, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường trong doanh nghiệp khu vực FDI.Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 1.Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát của luận văn là “nghiên cứu thực trạng quản lý môi trường trong các doanh nghiệp khu vực FDI tại Việt Nam để từ đó đề xuất giải pháp quản lý môi trường khu vực này hướng tới phát triển bền vững” Mục tiêu cụ thể là: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về FDI, quản lý môi trường trong doanh nghiệp FDI - Nghiên cứu hiện trạng quản lý môi trường trong khu vực FDI tại Việt Nam - Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường trong khu vực FDI 1.Câu hỏi nghiên cứu - Quản lý môi trường trong doanh nghiệp FDI là gì? - Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý môi trường trong doanh nghiệp FDI là gì? - Hiện trạng quản lý môi trường trong các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam như thế nào? - Quản lý môi trường trong các doanh nghiệp FDI hiện nay gặp những thuận lợi và khó khăn gì? - Các giải pháp cần thực hiện để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường trong các doanh nghiệp FDI là gì? 2.Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 2.Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng quản lý môi trường trong khu vực FDI tại Việt Nam cụ thể là nghiên cứu các khía cạnh quản lý gồm: nhận thức các vấn đề môi trường, đánh giá sự tuân thủ các quy định pháp lý, nhân lực quản lý, các công cụ quản lý môi trường được sử dụng, công nghệ sản xuất, chi phí quản lý môi trường doanh nghiệp.Phạm vi nghiên cứu - Về không gian Phạm vi nghiên cứu về tình hình quản lý môi trường trong doanh nghiệp FDI sử dụng số liệu thứ cấp trên cả nước kết hợp với số liệu sơ cấp tập trung vào một số doanh nghiệp FDI trong các khu công nghiệp thuộc các tỉnh như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương (Đông Nam Bộ) và Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc (Đồng bằng sông Hồng) thông qua phiếu điều tra. Đây là những tỉnh có thu hút FDI lớn của Việt Nam, chiếm trên 80% tổng số vốn đầu tư FDI vào Việt Nam. Chọn mẫu nghiên cứu ở các tỉnh này sẽ đảm bảo cho tính điển hình của các nội dung cần nghiên cứu của luận văn.
- Về thời gian Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý môi trường tại 1 số doanh nghiệp FDI năm 2015.Phƣơng pháp nghiên cứu Phương pháp điều tra bảng hỏi: tiến hành nghiên cứu thông qua bảng hỏi với các câu trả lời mở nhằm lấy ý kiến của các doanh nghiệp trong khu vực FDI, phân tích những số liệu thu thập được trong kết quả điều tra nhằm phục vụ các mục tiêu nghiên cứu của luận văn. Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu, hiện trạng quản lý môi trường trong các doanh nghiệp FDI, các văn bản chính sách về thu hút vốn, về quản lý môi trường, đặc biệt là các văn bản có tác động trực tiếp tới các doanh nghiệp FDI. Phương pháp chuyên gia tham gia các buổi phỏng vấn các ban quản lý KCN, sở KHĐT, sở TNMT, cán bộ môi trường công ty Canon Việt Nam về thực trạng thu hút FDI và công tác quản lý bảo vệ môi trường với doanh nghiệp FDI trong KCN để tìm hiểu những khó khăn trong quản lý môi trường từ phía cơ quan quản lý cũng như từ phía doanh nghiệp FDI. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG TRONG DOANH NGHIỆP ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.1 Tổng quan về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1.
Khái niệm Đầu tư Theo quan điểm kinh tế, đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế, xã hội những kết quả trong tương lai.Đầu tư là nhân tố không thể thiếu để phát triển kinh tế, là chìa khóa của tăng trưởng kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, đầu tư có thể do những chủ thể khác nhau (cá nhân, tổ chức, trong nước, nước ngoài…) tiến hành nhằm đem lại lợi ích cho chủ thể, cho nền kinh tế và toàn xã hội. Theo khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư 2014: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Đầu tư là hoạt động kinh tế, hoạt động xã hội hay hoạt động pháp lý thì đều cần có chủ thể thực hiện hoạt động này.
Theo khoản 13,14,15 điều 3 Luật Đầu tư 2014: “ Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”.2 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày nay đã trở thành hình thức đầu tư phổ biến và đã được định nghĩa bởi các tổ chức kinh tế quốc tế cũng như luật pháp của các quốc gia. FDI là một loại hình đầu tư quốc tế, trong đó chủ đầu tư của một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủ lớn vào một nền kinh tế khác để sở hữu hoặc điều hành, kiểm soát đối tượng họ bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế khác.
FDI là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lợi nhuận. Theo tổ chức thương mại thế giới WTO đưa ra định nghĩa về FDI: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường được gọi là (công ty mẹ) và các tài sản được gọi là (công ty con) hay (chi nhánh công ty) Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF: “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những mục đích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”- Đây cũng là khái niệm phù hợp với nội dung nghiên cứu trong luận văn của tác giả với mục tiêu nghiên cứu thực trạng quản lý môi trường trong doanh nghiệp FDI với quyền quản lý doanh nghiệp nằm trong tay tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Theo Ngân hàng thế giới WB: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc công dân của một nước thành lập hoặc mua lại cổ phần đáng kể sở hữu và quản lý ít nhất 10% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ở một nước khác”. Nhà đầu tư nước ngoài 14 có thể là các cá nhân hoặc các doanh nghiệp và hoạt động đầu tư có thể do người nước ngoài sở hữu hoàn toàn hoặc liên doanh giữa các nhà đầu tư nước ngoài và đối tác đầu tư địa phương.” Theo luật Đầu tư Việt Nam 2014 có hiệu lực từ 1/07/2015: Luật Đầu tư 2014 sử dụng khái niệm “Đầu tư kinh doanh” để thay thế 2 khái niệm trước đây là “Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp”.