Chương 1. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán lẻ Thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ” có xuất phát từ từ gốc trong tiếng Anh là “Retail banking” bắt đầu được sử dụng phổ biến tại Việt Nam trong khoảng một thập kỷ trở lại đây.
Mặc dù khái niệm này còn khá mới mẻ trên thế giới và đặc biệt là ở Việt Nam nhưng nó không hàm ý về một lĩnh vực hoạt động mới của ngân hàng mà trên thực tế hoạt động bán lẻ đã gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của ngành ngân hàng. Hiện nay có nhiều khái niệm “ngân hàng bán lẻ” theo những cách tiếp cận khác nhau. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, khái niệm bán lẻ được hiểu là việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, khác với bán buôn là bán cho người trung gian, cho các đại lý phân phối với số lượng lớn. Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực tài chính tiền tệ nên thuật ngữ bán lẻ trong hoạt động ngân hàng cũng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Có quan điểm cho rằng: “Dịch vụ bán lẻ là hoạt động ngân hàng mà ở đó các ngân hàng thực hiện các giao dịch trực tiếp với người tiêu dùng, thay vì với các tổ chức kinh tế hoặc các ngân hàng khác”.
Hoặc theo tổ chức thương mại thế giới WTO thì:“Ngân hàng bán lẻ là nơi mà các cá nhân có thể đến giao dịch tại những chi nhánh, phòng giao dịch của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm, kiểm tra số dư tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và một số dịch vụ khác đi kèm” Còn theo các chuyên gia của Học viện Công nghệ Châu Á - AIT thì “Dịch vụ bán lẻ là việc ngân hàng cung ứng các sản phẩm dịch vụ của mình tới từng cá nhân riêng lẻ, các ngân hàng vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc là khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua phương tiện CNTT, điện tử viễn thông”. Ở Việt Nam hiện nay chưa có khái niệm rõ ràng cũng như chuẩn hóa về ngân hàng bán lẻ. Nhiều quan điểm đã được đưa ra, tuy nhiên có thể tổng kết lại, khái niệm “ ngân hàng bán 16 lẻ” được hiểu là “dịch vụ ngân hàng cung cấp trực tiếp đến các đối tượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các ngân hàng vừa và nhỏ”. Dịch vụ ngân hàng được hiểu như sau: Theo WTO: Trong bảng phân loại các dịch vụ của Tổ chức thương mại thế giới, dịch vụ tài chính được xếp vào phân ngành thứ 7 trong 12 phân ngành dịch vụ, bao gồm: 1.
Dịch vụ kinh doanh 7. Dịch vụ tài chính 2. Dịch vụ liên lạc 8. Dịch vụ liên quan đến sức khoẻ và dịch vụ xã hội 3.
Dịch vụ xây dựng và thi công 9. Dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành 4. Dịch vụ phân phối 10. Dịch vụ giải trí, văn hoá và thể thao 5.
Dịch vụ giáo dục 11. Dịch vụ vận tải 6. Dịch vụ môi trường 12. Các dịch vụ khác Trong đó, “Dịch vụ tài chính là bất cứ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được cung cấp bởi một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp.
Dịch vụ tài chính bao gồm: Dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm; dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác; dịch vụ chứng khoán”. Nói cách khác, theo WTO, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành dịch vụ tài chính nói chung”. Theo Luật TCTD 2010 sửa đổi, dịch vụ ngân hàng không được định nghĩa và giải thích cụ thể mà chỉ nêu hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Tuy nhiên ở Việt Nam có hai quan điểm: quan điểm thứ nhất cho rằng tất cả các hoạt động sinh lời của NHTM ngoài hoạt động cho vay thì được gọi là hoạt động dịch vụ; quan điểm thứ hai cho rằng tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một NHTM đều được coi là hoạt động dịch vụ.
Theo tác giả, quan điểm thứ hai là phù hợp với thông lệ quốc tế, với cách phân loại các phân ngành dịch vụ ở Việt Nam. Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ ngân hàng bán lẻ - Đối tượng khách hàng: dịch vụ NHBL hướng tới đối tượng khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình, các DNNVV. Đặc thù của nhóm khách hàng này là khác nhau về độ tuổi, vị thế xã hội, trình độ học thức và hành vi tiêu dùng do đó nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng rất đa dạng và phong phú. Có nhóm khách hàng thì quan tâm nhiều đến tiện ích, giá trị gia tăng của sản phẩm, dịch vụ.
Ngược lại, nhóm khách hàng lại chú ý đến giá cả, lãi suất và uy tín của ngân hàng để quyết định có gửi tiền, vay tiền hay thực hiện các dịch vụ khác tại ngân hàng hay không. - Số lượng khách hàng lớn: Xuất phát từ đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL cho nên số lượng khách hàng của dịch vụ NHBL là rất lớn, trong khi dân số thế giới đang gia tăng, cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của những nền kinh tế mới nổi. Hệ quả tất yếu là sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của tầng lớp dân cư và các DNNVV. - Giá trị các khoản giao dịch thường nhỏ: Điều dễ nhận thấy là giá trị các khoản giao dịch của dịch vụ NHBL thường nhỏ hơn rất nhiều so với với các khoản giao dịch của các ngân hàng lớn, các định chế tài chính do nhu cầu, tính chất của các đối tượng tham gia giao dịch.
- Hệ thống kênh phân phối rộng (tổng đài dịch vụ khách hàng, chi nhánh, internet): Để cung ứng được sản phẩm cho một lượng lớn khách hàng tại nhiều địa điểm khác nhau đòi hỏi các NHTM phải có một hệ thống kênh phân phối rộng khắp để có thể đưa SPDV đến tận tay khách hàng, đáp ứng được nhu cầu và giảm thiểu những chi phí phát sinh không cần thiết cho khách hàng. - Sản phẩm phong phú và đa dạng: Do nhu cầu của mỗi khách hàng là khác nhau theo giới tính, độ tuổi, thu nhập, đặc tính vùng miền… nên các sản phẩm dịch vụ NHBL cần phong phú và đa dạng để thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của từng phân khúc khách hàng đó. Ngoài ra các sản phẩm đa dạng cũng đem đến nhiều hơn những lựa chọn cho khách hàng. - Dịch vụ NHBL dựa trên nền tảng CNTT: Trong thời đại số hóa hiện nay, ngân hàng nào có hệ thống CNTT phát triển, biết ứng dụng tốt công nghệ vào hoạt động ngân hàng thì sẽ có cơ hội lớn để phát triển hoạt đông bán lẻ của mình.
Bởi lẽ CNTT là nền tảng để hỗ trợ các 18 ngân hàng phát triển tốt các sản phẩm dịch vụ hiện đại của mình như internet banking, mobile banking, phone banking… Tốc độ và độ chính xác khi xử lý các giao dịch, các tiện ích của sản phẩm, mức độ bảo mật thông tin… là những yếu tố rất quan trọng khi khách hàng lựa chọn sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử của một ngân hàng. Bên cạnh đó, hệ thống công nghệ hiện đại cũng giúp cho ngân hàng có thể thực hiện việc lưu trữ và xử lý số liệu tập trung, từ đó có thể triển khai mô hình tập trung hóa hoạt động vận hành, xử lý các giao dịch có tính chất phân tán như hỗ trợ tín dụng, thanh toán trong và ngoài nước, giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao năng lực quản trị. - Rủi ro phân tán: Trong khi các dịch vụ bán buôn tại các ngân hàng tập trung vào đối tượng khách hàng là tổ chức kinh tế, trung gian tài chính với giá trị giao dịch lớn, độ rủi ro cao thì dịch vụ NHBL với số lượng khách hàng cá nhân lớn, rủi ro phân tán, là một trong những mảng đem lại doanh thu ổn định và an toàn cho các NHTM. Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ chủ yếu 1.
Huy động vốn từ khách hàng cá nhân và ngân hàng nhỏ và vừa Đây là nghiệp vụ truyền thống của NHTM góp phần hình thành nên nguồn vốn hoạt động của NHTM thông qua các sản phẩm sau: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, giấy tờ có giá, …. Dịch vụ cho vay bán lẻ Dịch vụ cho vay bán lẻ của các NHTM hiện nay rất phong phú và đa dạng nhằm đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng, bao gồm các sản phẩm cho vay tiêu dùng; cho vay du học; cho vay mua ôtô; cho vay xây nhà, mua nhà; cho vay sản xuất kinh doanh, …. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, tỷ trọng cho vay cá nhân và DNNVV trong dư nợ cho vay của NHTM ngày càng cao và chiếm một tỷ trọng rất quan trọng trong danh mục đầu tư của các NHTM trên thế giới. Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Với nền tảng hạ tầng công nghệ hiện đại, cùng hệ thống mạng lưới kênh phân phối rộng khắp, các NHTM cung cấp tới khách hàng dịch vụ thanh toán có tính chính xác, an toàn cao và 19 tiện ích, không những trong nước mà còn trên phạm vi toàn cầu làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn.
Hiện nay các NHTM đang áp dụng các phương thức thanh toán như: Chuyển tiền trong nội bộ hệ thống ngân hàng, chuyển tiền qua NHTM khác, chuyển tiền qua ngân hàng nước ngoài và thanh toán bù trừ. Các hình thức thanh toán bao gồm: Séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ thanh toán… Với việc cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, NHTM mang lại cho cá nhân và DNNVV nhiều tiện ích trong thanh toán. Nhờ số lượng khách hàng này, NHTM có thể tăng thêm thu nhập từ thu phí dịch vụ và là cơ sở để phát triển các dịch vụ khác. Cụ thể là thông qua việc mở tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, các ngân hàng có cơ hội cung cấp dịch vụ thẻ cho các cá nhân.
Các hình thức thanh toán qua ngân hàng được sử dụng chủ yếu.