Nghiên cứu biến động mưa lũ và cơ sở khoa học tính lũ cho công trình giao thông vùng núi Đông Bắc

Tìm hiểu biến động mưa lũ và tính lũ tác động đến giao thông vùng núi Đông Bắc. Nghiên cứu giải pháp quản lý rủi ro lũ lụt và bảo đảm an toàn giao thông.

Trường đại học

Trường Đại học Thủy Lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kỹ thuật

2016

230
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu mưa lũ vùng núi Đông Bắc Việt Nam

Vùng núi Đông Bắc Việt Nam gồm các tỉnh như Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên. Địa hình phức tạp, độ dốc lớn. Mưa lũ xuất hiện thường xuyên và có xu hướng biến động mạnh theo từng thập kỷ. Các công trình giao thông tại đây chịu áp lực lớn từ lũ quét và lũ ống. Nhiều cầu cống, đường bộ bị hư hại nghiêm trọng sau mỗi mùa mưa. Số liệu quan trắc mưa tại khu vực này được thu thập từ hàng chục trạm đo qua nhiều thập kỷ, từ năm 1958 đến 2014. Tuy nhiên, mạng lưới trạm đo dòng chảy còn thưa thớt và nhiều trạm đã ngừng hoạt động. Điều này gây khó khăn lớn cho việc tính toán lũ thiết kế. Luận án tiến sĩ của Doãn Thị Nội tại Trường Đại học Thủy lợi năm 2016 đã hệ thống hóa dữ liệu, phân tích xu thế biến động mưa lũ và đề xuất cơ sở khoa học phục vụ thiết kế công trình giao thông trong điều kiện số liệu hạn chế. Đây là công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao cho quy hoạch hạ tầng giao thông miền núi phía Bắc.

1.1. Đặc điểm địa lý và khí hậu vùng Đông Bắc

Vùng Đông Bắc Việt Nam có địa hình hiểm trở với nhiều dãy núi cao trên 1.000 mét. Lượng mưa trung bình năm dao động từ 1.200 đến 2.800 mm tùy tiểu vùng. Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 9, chiếm trên 80% tổng lượng mưa cả năm. Các lưu vực sông nhỏ, độ dốc lớn, thời gian tập trung dòng chảy ngắn. Lũ hình thành nhanh và đỉnh lũ cao. Thảm phủ rừng suy giảm làm tăng hệ số dòng chảy mặt. Đây là những yếu tố làm gia tăng mức độ nguy hiểm của lũ với công trình giao thông.

1.2. Hiện trạng mạng lưới trạm quan trắc mưa và dòng chảy

Tỉnh Bắc Kạn có 26 trạm đo mưa, trong đó có 4 trạm đo mưa theo giờ như Bắc Kạn, Chợ Rã, Ngân Sơn, Bắc Sơn. Tỉnh Lạng Sơn có 24 trạm đo mưa với các trạm dài hạn như Văn Lãng, Lộc Bình từ năm 1958. Số liệu dòng chảy giờ rất thiếu, phần lớn trạm thủy văn đã ngừng hoạt động. Tình trạng này buộc các nhà nghiên cứu phải sử dụng các phương pháp gián tiếp và mô hình toán để ước tính lũ thiết kế cho các lưu vực không có số liệu đo đạc.

II. Phân tích biến động mưa lũ và thách thức tính lũ thiết kế

Mưa lũ tại vùng núi Đông Bắc có xu hướng biến động phi tuyến theo thời gian. Phân tích chuỗi số liệu từ các trạm đo dài hạn cho thấy tần suất xuất hiện mưa cực đoan tăng rõ rệt trong các thập kỷ gần đây. Cường độ mưa lớn nhất trong 1 giờ tại nhiều trạm vượt 100 mm, gây ra lũ quét nguy hiểm. Tính toán lũ thiết kế cho công trình giao thông miền núi gặp nhiều khó khăn do thiếu số liệu thực đo. Các phương pháp thống kê truyền thống như phân bố Log Normal, Pearson III, Gumbel đòi hỏi chuỗi số liệu dài. Với các lưu vực không có số liệu, phải dùng phương trình hồi quy vùng hoặc đường lũ đơn vị tổng hợp SCS. Mô hình WinTR55 phù hợp với lưu vực nhỏ dưới 65 km². Tại Mỹ, phương pháp này cho kết quả tốt nhờ hệ thống bản đồ cường độ mưa chi tiết toàn quốc. Việt Nam chưa có hệ thống tương đương, tạo ra khoảng trống lớn trong thiết kế công trình thủy lợi và giao thông vùng núi.

2.1. Xu thế biến đổi mưa cực đoan trong dài hạn

Phân tích chuỗi số liệu mưa ngày tại các trạm Phủ Thông, Yên Lạc, Lạng Sơn từ những năm 1958 đến 2014 cho thấy lượng mưa ngày lớn nhất có xu hướng tăng. Số ngày mưa lớn trên 50 mm mỗi năm cũng gia tăng ở nhiều trạm. Hiện tượng biến đổi khí hậu làm thay đổi phân phối mưa trong năm, thu ngắn mùa mưa nhưng tăng cường độ. Các trận mưa lớn bất thường xảy ra ngay cả trong tháng khô hạn, gây lũ cục bộ nguy hiểm cho hạ tầng giao thông chưa được tính toán cho kịch bản này.

2.2. Hạn chế của số liệu dòng chảy và tác động đến thiết kế

Phần lớn trạm thủy văn tại Bắc Kạn và Lạng Sơn đã ngừng hoạt động trước năm 1991. Chuỗi số liệu lưu lượng giờ gần như không có cho các lưu vực nhỏ dưới 100 km². Điều này khiến kỹ sư thiết kế phải dùng công thức kinh nghiệm với hệ số bất định cao. Sai số trong tính lũ thiết kế có thể lên tới 30-50%, dẫn đến cống cầu bị vỡ hoặc lãng phí khi thiết kế thừa năng lực. Nghiên cứu hệ thống hóa các phương pháp và xây dựng phương trình hồi quy vùng là hướng tiếp cận cần thiết để giảm bất định này.

III. Phương pháp khoa học tính lũ cho công trình giao thông miền núi

Nghiên cứu đề xuất hệ thống phương pháp tính lũ phân cấp theo điều kiện số liệu có sẵn. Với lưu vực có số liệu thực đo đủ dài, áp dụng phương pháp thống kê xác suất với phân bố phù hợp như Log Normal, Pearson III hoặc Gumbel. Với lưu vực không có số liệu, ưu tiên phương trình hồi quy vùng xây dựng từ đặc trưng địa lý thủy văn. Mô hình quan hệ áp dụng cho lưu vực rất nhỏ dưới 1,3 km² với thời gian tập trung dòng chảy dưới 1 giờ. Phương pháp NRCS (SCS) cho lưu vực vừa với số liệu mưa là đầu vào chính. Phương trình hồi quy vùng theo USGS sử dụng các biến như diện tích lưu vực, lượng mưa trung bình năm và độ dốc. Nghiên cứu đã xây dựng bộ tham số hồi quy riêng cho vùng Đông Bắc dựa trên số liệu thực đo tại các lưu vực có đo. Kết quả kiểm định cho thấy sai số tương đối giảm đáng kể so với áp dụng công thức chung toàn quốc.

3.1. Phương pháp thống kê xác suất và phân bố tần suất lũ

Phân bố Pearson III được sử dụng phổ biến nhất tại Việt Nam do phù hợp với đặc tính lũ vùng nhiệt đới gió mùa. Phân bố Log Normal cho kết quả ổn định với chuỗi số liệu ngắn hơn 30 năm. Phân bố Gumbel thường dùng cho lũ cực đoan ở lưu vực lớn. Việc lựa chọn phân bố phù hợp phải dựa trên kiểm định thống kê như Chi-square hoặc Kolmogorov-Smirnov. Đối với vùng Đông Bắc, nghiên cứu đã so sánh các phân bố và xác định phân bố tối ưu cho từng nhóm lưu vực theo đặc trưng địa hình.

3.2. Xây dựng phương trình hồi quy vùng Đông Bắc

Phương trình hồi quy vùng được xây dựng dựa trên dữ liệu từ các lưu vực có đo đạc đủ dài. Các biến đầu vào gồm diện tích lưu vực A (km²), lượng mưa trung bình năm P (mm) và độ dốc lưu vực. Kết quả cho thấy diện tích lưu vực và lượng mưa năm là hai biến giải thích quan trọng nhất. Phương trình được kiểm định chéo với 30% dữ liệu giữ lại. Sai số tương đối trung bình đạt mức chấp nhận được dưới 25% cho hầu hết lưu vực trong vùng nghiên cứu, phù hợp với yêu cầu thiết kế cầu cống cấp đường miền núi.

IV. Kết luận và ứng dụng tính lũ cho giao thông vùng núi

Nghiên cứu đã hoàn thành hệ thống phương pháp tính lũ thiết kế phù hợp với điều kiện thực tế vùng núi Đông Bắc Việt Nam. Kết quả cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho thiết kế cầu cống, cống thoát nước và công trình bảo vệ đường bộ. Bộ phương trình hồi quy vùng đã được hiệu chỉnh riêng cho Bắc Kạn và Lạng Sơn, tăng độ chính xác so với áp dụng công thức quốc gia. Phân tích xu thế biến động mưa lũ cung cấp thông tin để điều chỉnh hệ số an toàn trong thiết kế. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, các công trình giao thông mới cần tính đến kịch bản mưa cực đoan với chu kỳ lặp lại ngắn hơn trước. Kết quả nghiên cứu khuyến nghị nên tăng cường lưới trạm quan trắc thủy văn tại các lưu vực nhỏ vùng núi để cải thiện chất lượng dữ liệu đầu vào. Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong xác định đặc trưng lưu vực là hướng phát triển tiếp theo có tiềm năng lớn.

4.1. Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của luận án

Luận án đã bổ sung cơ sở dữ liệu mưa lũ hệ thống cho vùng Đông Bắc, xây dựng bộ phương trình hồi quy vùng được kiểm định, và đề xuất quy trình lựa chọn phương pháp tính lũ theo điều kiện số liệu. Đây là tài liệu tham khảo quan trọng cho kỹ sư thiết kế công trình giao thông tại Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng. Kết quả nghiên cứu cũng hữu ích cho quy hoạch phòng chống lũ lụt cấp tỉnh và thiết kế hệ thống thoát nước đô thị miền núi đang phát triển nhanh.

4.2. Khuyến nghị và định hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần mở rộng mạng lưới trạm đo mưa tự động theo giờ tại các lưu vực nhỏ chưa có số liệu. Áp dụng mô hình thủy văn phân tán kết hợp viễn thám để ước tính lũ vùng không có trạm đo. Nghiên cứu cập nhật định kỳ 10 năm/lần để phản ánh xu thế biến đổi khí hậu. Xây dựng bản đồ cường độ mưa thiết kế chi tiết cho toàn vùng Đông Bắc tương tự hệ thống của Mỹ là mục tiêu dài hạn cần hướng tới để nâng cao chất lượng thiết kế công trình thủy công và giao thông.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn nghiên cứu sự biến động của mưa lũ và đề xuất cơ sở khoa học tính lũ cho công trình giao thông vùng núi đông bắc việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, luận án đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về nghiên cứu tính lũ thiết kế cho công trình giao thông. Chƣơng 2: Xây dựng cơ sở khoa học tính lũ cho công trình giao thông vùng núi Đông Bắc - Việt Nam. Chƣơng 3: Tính thử nghiệm và đề xuất phƣơng pháp tính lũ cho công trình giao thông vùng núi Đông Bắc - Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU TÍNH LŨ THIẾT KẾ CHO CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 1.1 Tổng quan về tính lũ thiết kế 1.1 Các nghiên cứu về tính lũ thiết kế trên thế giới Dòng chảy lũ là đặc trƣng quan trọng trong tính toán thiết kế các công trình, bởi vậy tính toán lũ là một vấn đề đặc biệt đƣợc quan tâm nghiên cứu.

Lũ thiết kế là trận lũ đƣợc sử dụng trong thiết kế công trình có trạng thái bất lợi, độ lớn phụ thuộc vào cấp công trình và đƣợc quy định bởi từng quốc gia. Lũ thiết kế bao gồm đỉnh lũ, tổng lƣợng và quá trình lũ. Hiện nay, tính lũ thiết kế phân thành hai nhóm: phƣơng pháp trực tiếp (phân tích thống kê xác suất) và phƣơng pháp gián tiếp (phân tích mƣa và mặt đệm). Việc tính lũ thiết kế trải qua một quá trình dài nghiên cứu mang tính kế thừa và phát triển nhằm chính xác và hiện đại hóa phục vụ xây dựng các công trình an toàn trong mùa mƣa lũ đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện tại.

Một số nghiên cứu về lũ thiết kế điển hình có thể kể đến nhƣ: Chow (1964), Shaw [1] là cuốn sổ tay tính toán thủy văn có đề cập đến phƣơng pháp tính toán lũ thiết kế phụ thuộc vào diện tích lƣu vực và tình trạng số liệu: đối với lƣu vực lớn, đủ số liệu thì dùng phƣơng pháp ngẫu nhiên (thống kê xác suất), đối với lƣu vực nhỏ dùng phƣơng pháp mô hình quan hệ, đường lũ đơn vị và quan hệ lưu lượng với diện tích và thời gian. Chow, Maidment (1988) [2] là tài liệu cơ bản nhất có đề cập đến tính toán thủy văn và các đặc trƣng thủy văn thiết kế nhƣ quá trình thu phóng, lựa chọn mƣa thiết kế và xây dựng đƣờng cong IDF, biểu đồ mƣa thiết kế dạng đƣờng cong tích lũy 24h, ƣớc tính thời gian mƣa giới hạn, tính toán lƣợng mƣa lớn nhất khả năng (PMF), các bản đồ đẳng trị mƣa với các thời gian mƣa, D = 5 - 60 phút hay 30 phút - 24h cho các thời kỳ lặp lại T = 1 - 100 năm. Các phƣơng pháp chuyển đổi mƣa hiệu quả và xác định dòng chảy thiết kế gồm đỉnh lũ, tổng lƣợng và quá trình lũ thiết kế dùng để thiết kế công trình thoát nƣớc, mô phỏng vùng ngập lụt, thiết kế hồ chứa, sử dụng và quản lý tài nguyên nƣớc. Đối với thoát nƣớc, Chow cũng giới thiệu phương pháp tính lũ cho lưu vực vừa và nhỏ theo mô hình quan hệ với A là diện tích lưu vực, I là cường độ mưa, C 5 là hệ số dòng chảy.

Ngoài ra, các đường lũ đơn vị cũng được đề cập sử dụng cho các lưu vực vừa và nhỏ. Vijay (2002) [3] trình bày các mô hình toán ứng dụng để tính lũ cho lƣu vực lớn và các lƣu vực nhỏ. Đối với các lƣu vực nhỏ các mô hình ứng dụng trình bày 15 mô hình đại diện trên toàn thế giới. Về lý thuyết cơ bản để xây dựng các mô hình đều là những kiến thức ứng dụng từ các tài liệu của Chow hay Maidment.

Phần tính lũ thiết kế gồm tổng lƣợng lũ, đỉnh lũ, tần suất lũ, xác suất rủi ro với các phƣơng pháp đề xuất nhƣ: Đƣờng lũ đơn vị tức thời, mô hình Nash, mô hình Clark, đƣờng lũ đơn vị SCS, hồi quy tuyến tính, phân tích thống kê xác suất, mô hình toán, tính lũ tại vị trí không có số liệu quan trắc theo phƣơng pháp hồi quy đa biến. Ngoài các tài liệu cơ bản đã nêu, còn có rất nhiều các tài liệu nghiên cứu liên quan đề cập đến các phƣơng pháp tính lũ thiết kế trên thế giới. Về cơ bản, lý thuyết tập trung dòng chảy hay phƣơng thức chuyển đổi mƣa hiệu quả vẫn nhƣ những tài liệu trên, tuy nhiên từ hai thập kỷ trở lại đây với sự phát triển vƣợt bậc của công nghệ máy tính, kỹ thuật viễn thám và GIS cho phép các nhà khoa học phân tích và thử nghiệm, cập nhật những công nghệ hiện đại nhằm chính xác hóa các tham số mà các phƣơng pháp trƣớc đây chƣa xây dựng đƣợc.2 Các nghiên cứu về tính lũ thiết kế ở Việt Nam Một số các tài liệu điển hình đề cập đến tính lũ thiết kế ở Việt Nam nhƣ: Quy phạm QP.TL C-6-77 (1977) [5] trình bày phƣơng pháp tính toán các đặc trƣng thủy văn cần thiết cho việc thiết kế các công trình thủy lợi trên các sông không bị ảnh hƣởng của thủy triều ở Việt Nam. Các đặc trƣng thủy văn đƣợc hƣớng dẫn tính trong quy phạm này bao gồm: lƣu lƣợng bình quân năm, lƣu lƣợng lớn nhất, lƣu lƣợng nhỏ nhất, sự phân phối dòng chảy năm, các loại mực nƣớc thiết kế và các thông số khác.

Khi tính lũ phục vụ thiết kế các công trình trên sông trong trƣờng hợp đủ số liệu thì tiến hành phân tích tần suất, trong trƣờng hợp không có số liệu thì sử dụng các công thức kinh nghiệm nhƣ: công thức Cƣờng độ giới hạn cho lƣu vực có diện tích nhỏ hơn 6 100 km2, công thức Triết giảm và Xokolopxky cho lƣu vực có diện tích trên 100 km2. Cho đến nay quy định về phƣơng pháp tính lũ thiết kế vẫn chủ yếu dựa trên quy phạm này nên có một số bất cập nhƣ các bảng tra không đƣợc cập nhập; việc xác định một số thông số vẫn phụ thuộc vào kinh nghiệm và chủ quan của ngƣời tính toán. Đỗ Cao Đàm và nnk (1990) [6] đã xuất bản cuốn Thủy văn công trình, trong tài liệu có trình bày cách tính lũ thiết kế, các phƣơng pháp này chủ yếu cũng là các phƣơng pháp đã đƣợc đề cập trong QP. Lê Đình Thành (1997) [7] đã nghiên cứu tìm ra khả năng và điều kiện ứng dụng phƣơng pháp tính mƣa lớn nhất khả năng (PMP) và lũ lớn nhất khả năng (PMF), từ đó kiến nghị một tiêu chuẩn tính lũ thiết kế hợp lý hơn cho điều kiện Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu đã đề cập một cách chi tiết đến các phƣơng pháp cũng nhƣ tính lũ liên quan đến lũ lớn nhất khả năng, tuy nhiên đối với công trình giao thông mức độ và tiêu chuẩn cũng nhƣ tính chất của công trình nếu xét theo bài toán này cần phải có những nghiên cứu cụ thể hơn nữa trong tƣơng lai. Lê Văn Nghinh (2000) [8] đã biên soạn cuốn Nguyên lý Thủy văn, đây cũng là một tài liệu quan trọng đề cập đến tính toán các đặc trƣng thiết kế nhƣ dòng chảy năm, tháng, lũ, kiệt và mực nƣớc thiết kế. Các phƣơng pháp tính lũ thiết kế cũng bao gồm các phƣơng pháp nằm trong QP. Tuy nhiên, tài liệu chủ yếu đề cập đến dòng chảy tháng và năm thiết kế phục vụ cho xây dựng và vận hành hồ chứa.

Bộ môn TV&TNN (2003) [9] đã biên soạn cuốn Thủy văn thiết kế, đây cũng là tài liệu quan trọng dùng để tính toán các đặc trƣng thiết kế công trình. Tuy nhiên các phƣơng pháp và cách tiếp cận cũng dựa trên nền của QP. Phạm Ngọc Quý và nnk (2005) [10] đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu cảnh báo dự báo lũ vƣợt thiết kế - Giải pháp tràn sự cố” đã tiến hành xây dựng phần mềm tính lũ thiết kế. Phần mềm này cho phép tính lũ theo tần suất thiết kế dựa vào các công thức kinh nghiệm trong QP.TL C - 6 - 77 nêu trên, phƣơng pháp tính lũ đơn vị SCS, tính lũ lớn nhất khả năng PMF theo phƣơng pháp thống kê của Hasfield.

Tuy nhiên phần mềm này cũng chƣa có sự cập nhập mới nào về bảng tra. 7 Hà Văn Khối và nnk (2012) [11] đã cập nhật và cho tái bản cuốn giáo trình Thủy văn công trình (ấn phẩm đầu tiên đƣợc xuất bản năm 1993) gồm 2 tập trong đó Tập 1 trình bày các phƣơng pháp tính toán lũ thiết kế. Về cơ bản các phƣơng pháp tính toán đều theo QP.TL C - 6 - 77, tuy nhiên cuốn giáo trình có cập nhập và giới thiệu thêm các kỹ thuật mới sử dụng trong tính toán lũ thiết kế nhƣ mô hình toán thủy văn bao gồm các mô hình thủy văn tất định tính toán dòng chảy từ mƣa, các mô hình lũ đơn vị. Ngô Lê Long và nnk (2015) [12] trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nƣớc “Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất các tiêu chuẩn thiết kế lũ, đê biển trong điều kiện biến đổi khí hậu, nƣớc biển dâng ở Việt Nam và giải pháp phòng tránh, giảm nhẹ thiệt hại” đã tiến hành nghiên cứu và đề xuất phƣơng pháp tính lũ thiết kế cho các công trình hồ chứa có xét tới tác động của biến đổi khí hậu.

Nghiên cứu cũng đã xác lập đƣợc cơ sở khoa học và thực tiễn của các tiêu chuẩn thiết kế lũ đƣợc đề xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu, nƣớc biển dâng ở nƣớc ta đảm bảo an toàn, an sinh xã hội.2 Tổng quan tính lũ thiết kế cho công trình giao thông Việc tính lũ phục vụ thiết kế các công trình giao thông trên thế giới đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Qua tìm hiểu và phân tích các tài liệu liên quan, có thể phân các phƣơng pháp tính lũ thiết kế cho các công trình thoát nƣớc trong giao thông nói chung thành hai nhóm chính: i) nhóm các phương pháp sử dụng ở các nước Nhật, phương Tây và Mỹ và ii) nhóm các phương pháp sử dụng ở các nước Đông Âu, Nga và Việt Nam (hình 1.1 Các phƣơng pháp tính lũ cho giao thông trên thế giới 8 1.1 Tính lũ thiết kế ở các nước Nhật, phương Tây và Mỹ +) Các phƣơng pháp tính lũ thiết kế ở Nhật bản Tính lũ thiết kế ở Nhật đƣợc đề cập trong nhiều tài liệu tính toán thủy văn ở các hƣớng dẫn, quy phạm, quy chuẩn thiết kế công trình; một trong những tài liệu cơ bản mang tính pháp lý đƣợc sử dụng nhiều cho ngành giao thông là: Hƣớng dẫn tính thủy văn thủy lực - Hƣớng dẫn và tiêu chuẩn kỹ thuật cho các dự án thiết kế (phần kiểm soát lũ) [13], [14].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ