Luận văn: Giải pháp giảm thiệt hại do mưa lũ phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum

Tìm hiểu các giải pháp hiệu quả giảm thiệt hại do mưa lũ tại Kon Tum, hướng tới phát triển bền vững. Đánh giá chi tiết các biện pháp phòng chống và kế hoạch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

170
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thiệt hại mưa lũ tại tỉnh Kon Tum

Tỉnh Kon Tum nằm ở vùng Tây Nguyên, chịu ảnh hưởng nặng nề từ mưa lũ hàng năm. Địa hình đồi núi phức tạp kết hợp với chế độ mưa đặc thù tạo ra nguy cơ lũ lụt cao. Lượng mưa trung bình năm dao động lớn giữa các vùng trong tỉnh. Theo số liệu quan trắc, lượng mưa một ngày lớn nhất chưa vượt quá 200 mm/ngày tại các trạm đo mưa trong tỉnh. Độ ẩm tương đối trung bình năm đạt khoảng 78-81%, với các tháng VII và VIII có độ ẩm cao nhất từ 87 đến 92%. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, tập trung phần lớn lượng mưa năm. Tỉnh hiện có 438 công trình thủy lợi, gồm 50 hồ chứa, 325 đập dâng và 8 trạm bơm. Năng lực tưới thực tế chỉ đạt 63,83% so với thiết kế. Biến đổi khí hậu toàn cầu làm gia tăng các hình thái thời tiết cực đoan. Mưa đặc biệt lớn và hạn hán kéo dài xen kẽ nhau, gây tổn thất nghiêm trọng cho kinh tế - xã hội địa phương. Hệ thống phòng chống lũ cần được nâng cấp toàn diện để ứng phó với thách thức ngày càng tăng.

1.1. Đặc điểm khí hậu và chế độ mưa tại Kon Tum

Kon Tum có chế độ mưa mùa điển hình của Tây Nguyên. Tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng III, dao động quanh 70%. Mùa khô có những ngày độ ẩm giảm xuống dưới 10%. Lượng bốc hơi hàng năm đo bằng ống Piche phản ánh sự chênh lệch rõ rệt giữa hai mùa. Trạm đo mưa tại Kon Tum, Sa Thầy và Đăk Tô ghi nhận các số liệu quan trắc quan trọng phục vụ quy hoạch phòng chống lũ. Chênh lệch độ ẩm giữa tháng ẩm nhất và tháng khô nhất không vượt quá 20%, tạo ra chu kỳ lũ - hạn đặc thù.

1.2. Thực trạng công trình thủy lợi phòng chống lũ

Toàn tỉnh Kon Tum có 438 công trình thủy lợi phân bố trên địa bàn. Trong đó 74 công trình do Công ty cổ phần khai thác và xây dựng Thủy lợi Kon Tum quản lý, gồm 38 hồ chứa, 7 trạm bơm và 21 đập dâng. Còn lại 364 công trình do các huyện, thành phố quản lý. Năng lực phát huy của hệ thống công trình nhìn chung còn thấp so với công suất thiết kế, đây là điểm yếu cần ưu tiên khắc phục trong chiến lược phát triển bền vững.

II. Phân tích nguyên nhân và tác động của mưa lũ đến kinh tế xã hội Kon Tum

Mưa lũ tại Kon Tum xuất phát từ nhiều nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo. Nguyên nhân tự nhiên bao gồm địa hình dốc, đất dễ xói mòn và lưu lượng dòng chảy tập trung nhanh. Rừng đầu nguồn đóng vai trò điều tiết dòng chảy quan trọng. Khi rừng được bảo vệ tốt, nước mưa thấm vào đất, chảy chậm, hạn chế hình thành lũ. Khai thác rừng bừa bãi hoặc cháy rừng dẫn thẳng đến thảm họa lũ lụt và ngập úng. Biến đổi khí hậu toàn cầu là nguyên nhân bên ngoài ngày càng nghiêm trọng. Hiệu ứng nhà kính làm thay đổi điều kiện khí hậu, phá vỡ các quy luật tự nhiên vốn có. Sự suy giảm tầng ôzôn do hóa chất thải vào khí quyển cũng tác động gián tiếp. Hậu quả kinh tế - xã hội rất nặng nề: mất mùa, hư hỏng cơ sở hạ tầng, thiệt hại tính mạng người dân. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện vùng sâu chịu thiệt thòi nhiều nhất vì thiếu hạ tầng bảo vệ và thông tin cảnh báo kịp thời.

2.1. Tác động của biến đổi khí hậu đến tần suất lũ lụt

Biến đổi khí hậu làm gia tăng các hình thái khí hậu cực đoan tại Kon Tum. Mưa đặc biệt lớn xuất hiện nhiều hơn, kéo dài hơn và khó dự báo hơn so với trước. Khí nhà kính tác động trực tiếp lên nhiệt độ và chu kỳ thủy văn toàn cầu. Hệ quả là lũ lụt và ngập úng ngày càng gia tăng về tần suất lẫn cường độ. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách phải xây dựng hệ thống phòng chống lũ thích ứng với điều kiện khí hậu mới, không thể chỉ dựa trên số liệu lịch sử.

2.2. Vai trò của rừng đầu nguồn trong điều tiết lũ

Rừng đầu nguồn là lá chắn tự nhiên quan trọng nhất chống lũ lụt tại Kon Tum. Thảm thực vật rừng giúp hấp thụ nước mưa, tăng thời gian tập trung dòng chảy. Khi độ che phủ rừng đảm bảo, nguy cơ hình thành lũ quét giảm đáng kể. Ngược lại, mất rừng do khai thác hoặc cháy rừng làm tốc độ dòng chảy tăng vọt. Bảo vệ và phục hồi rừng đầu nguồn vừa là giải pháp phòng lũ chi phí thấp, vừa mang lại lợi ích sinh thái lâu dài cho toàn tỉnh.

III. Giải pháp giảm thiệt hại mưa lũ để phát triển bền vững Kon Tum

Luận văn đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể, kết hợp công trình và phi công trình. Nhóm giải pháp công trình tập trung nâng cấp hệ thống thủy lợi hiện có. 438 công trình thủy lợi của tỉnh cần được rà soát, sửa chữa và nâng cao năng lực vận hành. Ưu tiên cải tạo các hồ chứa xuống cấp và xây dựng thêm đập điều tiết lũ ở các lưu vực nguy hiểm. Nhóm giải pháp phi công trình bao gồm hệ thống cảnh báo sớm, quy hoạch sử dụng đất và tăng cường quản lý rừng đầu nguồn. Cần xây dựng bản đồ ngập lụt chi tiết cho từng vùng, từng lưu vực sông trong tỉnh. Hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn cần được đầu tư hiện đại hóa. Kết hợp kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc với khoa học kỹ thuật hiện đại để xây dựng giải pháp phù hợp với từng địa phương. Việc mô phỏng và đánh giá kịch bản lũ bằng phần mềm chuyên dụng là nền tảng khoa học cho mọi quyết định đầu tư.

3.1. Giải pháp công trình nâng cấp hệ thống thủy lợi

Hệ thống 50 hồ chứa và 325 đập dâng cần được kiểm định định kỳ và nâng cấp đồng bộ. Năng lực tưới thực tế hiện đạt 63,83% thiết kế, cần nâng lên trên 85% trong giai đoạn tới. Ưu tiên phân bổ ngân sách cho 74 công trình lớn do công ty tỉnh quản lý. Xây dựng thêm hồ điều tiết lũ tại các lưu vực có nguy cơ cao, đặc biệt ở các huyện miền núi. Cải thiện hệ thống kênh dẫn, cống thoát lũ tại các khu vực đông dân cư và vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm.

3.2. Giải pháp phi công trình và quản lý rủi ro lũ lụt

Xây dựng hệ thống cảnh báo lũ sớm kết nối từ trung tâm tỉnh đến các xã vùng sâu. Thiết lập bản đồ ngập lụt và phân vùng rủi ro chi tiết làm cơ sở quy hoạch. Tăng cường bảo vệ rừng đầu nguồn, nghiêm cấm khai thác trái phép tại các khu vực đầu nguồn sông. Đào tạo cộng đồng về ứng phó lũ lụt, đặc biệt tại các buôn làng dân tộc thiểu số. Xây dựng kế hoạch di dân khỏi vùng nguy hiểm kết hợp phát triển sinh kế bền vững cho người dân tái định cư.

IV. Kết luận và định hướng phát triển bền vững kinh tế xã hội Kon Tum

Nghiên cứu đã phân tích toàn diện hiện trạng mưa lũ và hệ thống phòng chống lũ tại tỉnh Kon Tum. Kết quả mô phỏng và đánh giá dựa trên số liệu quan trắc thực tế tại các trạm khí tượng thủy văn trong tỉnh. Luận văn của tác giả Nguyễn Hải Hà dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Việt Hòa đã chỉ ra rõ ràng các điểm yếu của hệ thống phòng chống lũ hiện tại. Giải pháp đề xuất mang tính tổng thể, kết hợp cả công trình lẫn phi công trình. Phát triển bền vững kinh tế - xã hội Kon Tum đòi hỏi giảm thiểu rủi ro lũ lụt như một điều kiện tiên quyết. Các vùng nông nghiệp, khu dân cư và cơ sở hạ tầng quan trọng cần được bảo vệ trước nguy cơ ngập lụt. Đầu tư vào phòng chống lũ không chỉ giảm thiệt hại mà còn tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế dài hạn. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban, ngành và chính quyền các cấp. Mô hình quản lý lũ tổng hợp của Kon Tum có thể là tài liệu tham khảo cho các tỉnh Tây Nguyên khác.

4.1. Đóng góp khoa học của luận văn trong quản lý lũ lụt

Luận văn cung cấp bộ số liệu quan trắc và phân tích thủy văn toàn diện cho tỉnh Kon Tum. Phương pháp mô phỏng dòng chảy lũ được áp dụng trên nền số liệu thực tế, đảm bảo độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý lập quy hoạch phòng chống thiên tai. Đây là công trình nghiên cứu độc lập, không sao chép, đóng góp thiết thực vào kho tàng nghiên cứu khoa học về quản lý lũ lụt ở vùng Tây Nguyên Việt Nam.

4.2. Lộ trình thực hiện và kiến nghị chính sách

Ưu tiên trước mắt là nâng cấp các công trình thủy lợi xuống cấp và xây dựng hệ thống cảnh báo lũ. Giai đoạn trung hạn tập trung phục hồi rừng đầu nguồn và hoàn thiện bản đồ ngập lụt. Dài hạn cần xây dựng thể chế quản lý lũ tổng hợp theo lưu vực sông. Kiến nghị tỉnh Kon Tum tăng ngân sách cho phòng chống thiên tai, ưu tiên các huyện có nguy cơ cao. Cần lồng ghép mục tiêu giảm nhẹ rủi ro lũ lụt vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm của tỉnh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn nghiên cứu đề xuất giải pháp giảm nhỏ thiệt hại do mưa lũ gây ra để phát triển bền vững kinh tế xã hội tỉnh kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I–TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về tình hình lũ lụt ở các lưu vực sông 1.1 Tổng quan tình hình lũ lụt ở các lưu vực sông trên thế giới Trên thế giới, hàng năm các loại thiên tai như: bão, lũ lụt, động đất, lở đất, sóng thần, nước dâng, núi lửa phun,… đã gây tổn thất lớn về người, các công trình cơ sở hạ tầng, các công trình dân sinh và nền kinh tế nói chung của nhiều quốc gia.Trong các loại thiên tai nói trên lũ lụt, lũ quét thường có tần suất lặp lại lớn nhất và gây ra tổn thất nặng nề về người và tài sản. Lũ lụt,xảy ra hầu khắp các lưu vực sông suối trên thế giới, đặc biệt là các lưu vực nhiệt đới, cận nhiệt đới, vùng núi phụ cận dãy Hymalaya thuộc Ấn Độ, ở Trung Quốc, Pakistan, Thái Lan, Nepan, Inđonexia, Philippines, Malayxia, Nhật Bản, Việt Nam. Những vùng này đặc trưng bằng mùa hè khô nóng, mưa rào lớn, mưa do bão, xoáy thuận nhiệt đới trên các lưu vực bị khai thác mạnh mẽ do hoạt động kinh tế của con người.

Hiện nay, do sự biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ tới hàng triệu năm. Những biến đổi này được sinh ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời và gần đây có thêm sự hoạt động của con người. BĐKH trong thời gian từ thế kỷ 20 đến nay gây ra chủ yếu do con người. Theo báo cáo của Tổ chức nghiên cứu liên Chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (IPCC - intergovernmental Panel on Climate Change IPCC), trong vòng 80 năm (từ 1920 đến 2005) nhiệt độ trung bình trên bề mặt trái đất đã ấm lên gần 1°C và tăng rất nhanh trong khoảng 25 năm nay (từ 1980 đến 2005); thì lũ lụt, lũ quét ngày càng gia tăng về quy mô và cường độ.

Chính vì những lý do đó, việc nghiên cứu, cảnh báo và dự báo nguy cơ ngập lụt luôn được các nhà khoa học và chính quyền địa phương các nước quan tâm. Vấn đề nghiên cứu về hiện trạng ngập lụt, cảnh báo và dự báo mức độ ngập lụt được tiến hành từ những năm cuối của thế kỷ 17. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật, tại các nước phát triển như Nhật Bản, Mỹ, Canađa, Úc… việc nghiên cứu lũ lụt đã có bước tiến vượt bậc như : Từ các trạm quan trắc thời tiết thủ công đến nay hệ thống quan trắc tự động và tự động truyền số liệu, từ quan trắc tại các trạm cố định đến phát triển quan trắc từ các trạm không gian ( vệ tinh khí tượng, rađa thời tiết ). Đặc biệt công nghệ dự báo, cảnh báo ngập lụt đã xây dựng thành hệ thống liên hoàn từ thu thập số liệu, xử lý số liệu, mô phỏng bằng các mô hình số và phát bản tin dự báo.

Việc nghiên cứu , dự báo và cảnh báo ngập lụt là vấn đề được quan tâm nghiên cứu theo nhiều hướng: Nghiên cứu dự báo lũ cho hồ chứa, cho vùng hạ lưu; nghiên cứu dự báo lũ 4 cho hệ thống sông chính; nghiên cứu dự báo lũ cho quy hoạch và quản lý tổng hợp lưu vực. Nội dung các dự báo là tìm ra các quy luật của dòng chảy trên cơ sở các điều kiện hình thành ở thời điểm phát báo để dự báo các hiện tượng sẽ xảy ra trong tương lai, dẫn đến chủ động trong việc phòng tránh lũ, bảo vệ an toàn người và tài sản. Việc tính toán lũ mới chỉ dừng lại ở mức độ nhất định tại một không gian và thời gian cụ thể, còn dự báo lũ có phạm vi không gian và thời gian rộng lớn hơn nhiều và có tính chất là một công việc thường xuyên. Tại Mỹ, năm 1970 lần đầu tiên bộ mô hình HSP-Hydrocomp Simulation Program (Hdrocomp, 1969 ) và mô hình SSARR ( Rockwood, 1964 ) đã được kết hợp sử dụng để tính toán dòng chảy và dự báo lũ cho sông Santa Ynez phục vụ mục đích cấp nước, giảm thiệt hại do lũ và cảnh báo nguy cơ ngập lụt ở hạ lưu Cachuma.

Mô hình Hydrocomp (Hdrocomp, 1969) cũng được lựa chọn để tính toán và dự báo dòng chảy cho hệ thống sông Derwent ở Anh phục vụ cho mục đích đánh giá khả năng xả lưu lượng từ hồ chứa Thirlmere để duy trì dòng chảy kiệt tại Workington. Tại vương quốc Anh, năm 1975 hệ thống dòng chảy thời gian thực của sông Dee là sản phẩm của chương trình hợp tác nghiên cứu được đề xuất vào năm 1966 đã phát triển một phương pháp mới phục vụ cho việc quản lý hồ chứa đa mục tiêu. Kiểm tra và dự báo lũ ( cả lũ lớn và lũ nhỏ ) là một phần rất quan trọng trong hợp tác nghiên cứu. Năm 1989, cơ quan thời tiết Quốc gia Mỹ ( NMS ) đã xây dựng hệ thống dự báo thủy văn tác nghiệp ( NWSRFS – National Weather Servise River Frocasting System ), trong đó mô hình SACRAMENTO và mô hình SSARR được dùng trong tính toán dòng chảy từ mưa, các phương pháp diễn toán thủy văn được dùng để diễn toán lũ trong các đoạn sông và mô hình thủy lực FLDWAV được dùng để tính toán thủy lực trong các trường hợp khẩn cấp như phân lũ, tràn và vỡ đê, vỡ đập.

Tại Nhật Bản, một nước có nền kinh tế và công nghiệp phát triển cao, mạng lưới trạm quan trắc phục vụ dự báo khá tốt với khoảng 1.300 trạm qua trắc tự động, 162 trạm quan trắc Synop, 1 vệ tinh khí tượng, 22 rađa khí tượng…Cục khí tượng Nhật Bản có nhiệm vụ dự báo thời tiết và từ đó đưa ra các thông báo, dự báo về thời tiết. Công việc dự báo thủy văn trên các sông suối của Nhật do Bộ xây dựng ( trước đây ) đảm nhận. Các cơ quan thuộc Bộ này đã phối hợp với nhiều cơ quan nghiên cứu, công ty tư vấn để xây dựng những công nghệ dự báo thích hợp cho từng lưu vực sông cụ thể. Ở Nhật Bản ngoài mô hình thủy lực MIKE.

Các chuyên gia thường sử dụng quan hệ hồi quy, mô hình TANK, mô hình lượng trữ và gần đây là các công nghệ mới như hệ mờ và hệ thần kinh nhân tạo. Gần nước ta hơn, trung tâm START Đông Nam Á ( Southeast Asia START Regionnal Center ) đang xây dựng “ Hệ thống dự báo lũ thời gian thực cho lưu vực sông Mê Kông”. 5 Hệ thống này được xây dựng dựa trên mô hình thủy văn khu vực có thông số phân bố, tính toán dòng chảy từ mưa. Hệ thống dự báo được phân thành 3 phần : thu nhận số liệu từ vệ tinh và các trạm tự động, dự báo thúy văn và dự báo ngập lụt.

Thời gian dự kiến dự báo là 1 hoặc 2 ngày. Hệ thống này đang được hoàn thiện. Qua những thông tin trên, có thể nhận thấy rằng, trên thế giới việc dự báo lũ lụt đã đáp ứng được độ chính xác về thời gian xuất hiện lũ và cường suất lũ, phục vụ tích cực cho công tác phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai.2 Tổng quan tình hình lũ lụt ở các lưu vực sông ở Việt Nam DiÖn tÝch ®Êt ®ai cña c¶ n­íc ta kho¶ng 33. Trong đó diện tích đất vùng đồi núi là hơn 20 triệu ha, chiếm gần 70% diện tích đất đai cả nước.

Các tỉnh có diện tích đồi núi chiếm phần lớn. Có thể phân 3 khu vực: - C¸c tØnh miÒn nói phÝa B¾c: gåm 12 tØnh (Hµ Giang, Tuyªn Quang, Cao B»ng, L¹ng S¬n, Lai Ch©u, §iÖn Biªn, Lµo Cai, Yªn B¸i, Th¸i Nguyªn, B¾c C¹n, S¬n La, Hoµ B×nh, Qu¶ng Ninh) cã diÖn tÝch tù nhiªn lµ: 9.000 ha chiÕm h¬n 28% diÖn tÝch ®Êt tù nhiªn c¶ n­íc.000 ng­êi, chiÕm 12% d©n sè c¶ n­íc, mËt ®é 120 ng­êi/km2. - C¸c tØnh thuéc Trung bé: Thanh Ho¸, NghÖ An, Hµ TÜnh, Qu¶ng B×nh, Qu¶ng TrÞ, Thõa Thiªn HuÕ, Qu¶ng Nam, §µ N½ng, Qu¶ng Ng·i, B×nh §Þnh, Phó Yªn, Kh¸nh Hoµ, Ninh ThuËn, B×nh ThuËn cã diÖn tÝch tù nhiªn 9.000 ha chiÕm 28% diÖn tÝch c¶ n­íc, d©n sè 17.000 ng­êi chiÕm 23,8% d©n sè c¶ n­íc, mËt ®é b×nh qu©n 178 ng­êi/km2. - Vïng ®åi nói T©y Nguyªn gåm c¸c tØnh §¾c L¾c, §¾c N«ng, L©m §ång vµ Gia Lai - Kon Tum, cã d©n sè gÇn 3 triÖu ng­êi vµ tæng diÖn tÝch ®Êt ®ai 5 ÷ 6 triÖu ha, trong ®ã diÖn tÝch ®Êt n«ng nghiÖp chØ cã 573.000 ha, diÖn tÝch c©y c«ng nghiÖp 59.

Nước ta là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH. Theo kịch bản trung bình, vào cuối thế kỉ 21, nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên 2,6 độ C ở Tây Bắc, Nam Trung Bộ, 1,6 độ C ở Tây Nguyên và 2,0 độ C ở Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980-1999. Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc và Bắc Trung Bộ sẽ tăng nhanh hơn so với nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Nam. Tại mỗi vùng, nhiệt độ mùa đông sẽ tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè.

Cũng theo kịch bản trung bình, tổng lương mưa năm và lượng mưa mùa mưa ở tất cả các vùng khí hậu của nước ta đều tăng, trong khi đó lượng mưa mùa khô có xu hướng giảm. Theo số liêu thống kê chưa đầy đủ, từ năm 1953 ( chưa tính thời gian trước năm 1975 ở khu vực Miền Nam ) đến năm 2005 trên toàn quốc đã có ít nhất 321 trận lũ, lũ quét với quy mô khác nhau. Ở hầu khắp các tỉnh miền núi và trung du trên cả nước ta 6 đều có lũ lụt, lũ quét có nguồn gốc do mưa. Lũ lụt, lũ quét đã và sẽ gây ra tác hại nhiều mặt, trước hết là thiệt hại về người ở cộng đồng, đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa, nơi mà hầu như không có thông tin và các biện pháp phòng tránh hiệu quả, cùng với những khó khăn khi ứng cứu.

Vì những thiệt hại to lớn do thiên tai gây ra, các công trình, dự án nghiên cứu khoa học về lũ lụt, lũ quét đã được tiến hành khá sớm và đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, khi mà đời sống của mỗi người dân trong cả nước đã từng bước được cải thiện. Ngay từ những năm 1980, việc nghiên cứu lũ lụt ở nước ta tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và giải đồng bằng ven biển miền Trung ( kể từ sau trận lũ lịch sử năm 1999) với khá nhiều đề tài, dự án cấp tỉnh, cấp Bộ và cấp nhà nước đã được triển khai thực hiện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ