Chương I cũng trình bày các hệ thống GNSS tiến tiến như hệ thống GPS, Galileo, Glonass, đồng thời nêu lên ứng dụng của nó trong hiện tại và tương lai 1. Khái quát về công nghệ GNSS Trong khoảng những năm 60 thế kỷ trước, các nhà khoa học của Liên Xô đã phóng thành công các vệ tinh nhân tạo, là tiền đề mở ra dự án thành lập hệ thống định vị toàn cầu mang tên Glonass (Global Navigation Satellite System). Cùng với thời gian này, bộ quốc phòng Mỹ cũng xây dựng được một hệ thống đạo hàng vô tuyến vệ tinh mang tên NAVSTAR GPS (Navigation Satellite Providing Timing and Ranging Global Positioning System) trên cơ sở các kết quả của chương trình TRANSIT và đề án Timation. Trong suốt thời gian dài hoạt động, hệ thống định vị gọi tắt là GPS chỉ có ngành quân sự Mỹ độc quyền khai thác sử dụng.
Từ những năm 1980 trở lại đây, chính phủ Mỹ cho phép khai thác sử dụng hệ thống GPS vào mục đích dân sự. Từ đó trở đi, công nghệ GPS đã được nghiên cứu, ứng dụng vào nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, trong đó có ngành khoa học trái đất. Với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, hiệu quả ứng dụng trong các ngành khoa học. Các nước đã phát triển riêng cho mình một hệ thống định vị vệ tinh riêng nhằm phục vụ những mục đích khác nhau trong mọi lĩnh vực.
Có thể kể đến những hệ thống định vị lớn bao gồm hệ thống định vị GPS (Mỹ), hệ thống GLONASS (Nga), hệ thống GALILEO (EU), hệ thống Beidou hay còn gọi là COMPASS (Trung Quốc). Cùng với sự phát triển đó hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu GNSS (Global Navigation Satellite System) ra đời nhằm đem lại hiệu quả cũng như đạt độ chính xác cao hơn. Hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu GNSS là hệ thống kết hợp 3 bao gồm các hệ thống định vị vệ tinh GPS (Mỹ), GLONASS (Nga), GALILEO (EU), BEIDOU – hay còn gọi là COMPASS (Trung Quốc).1: Mô hình vệ tinh nhân tạo 1. Nguyên lý cấu tạo của công nghệ GNSS GNSS được cấu thành như một chòm sao của quỹ đạo vệ tinh kết hợp với thiết bị ở mặt đất.
Trong cùng một thời điểm, ở một vị trí trên mặt đất nếu xác định được khoảng cách đến 4 vệ tinh (tối thiểu) thì sẽ xác định được tọa độ của vị trí đó. Hệ thống GNSS được cấu tạo từ 3 thành phần: Đoạn không gian (space segment), Đoạn điều khiển (control segment), Đoạn sử dụng (user segment).2: Cấu trúc của hệ thống GNSS 4 1. Đoạn không gian (space segment) Đoạn không gian bao gồm các vệ tinh bay trên bầu trời (vệ tinh GPS, GLONASS, GALILEO, COMPASS) các vệ tinh bố trí di chuyển liên tục theo quỹ đạo trên bầu trời. Có độ cao và góc nghiêng hợp lý bảo đảm mỗi điểm trên mặt đất đều thu được ít nhất tín hiệu của 4 vệ tinh cùng lúc.
Dưới đây là bảng thống kê một số tham số kỹ thuật của hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu GNSS bao gồm các tham số của 4 hệ thống vệ tinh: GPS, GLONASS, GALILEO, BEIDOU hay còn gọi là COMPASS.1 Một số tham số kỹ thuật của các hệ thống vệ tinh dẫn đƣờng toàn cầu[7] Các tham số GPS GLONASS GALILEO COMPASS kỹ thuật Tổng số vệ tinh 24 24 27 35 Số mặt phẳng 6(cách nhau 3 (cách nhau 3 (cách nhau 3 (cách nhau quỹ đạo 60o) 120o) 120o) 120o) Góc nghiêng mặt phẳng quỹ 55o 64,8o 56o 55o đạo Độ cao quỹ 20 200 km 19 100 km 23 616 km 21 550 km đạo Chu kỳ quay 11h58’ 11h15’ 14h21’ 12h50’ của vệ tinh Chu kỳ quan 1 ngày sao 8 ngày sao 3 ngày sao 10 ngày sao 5 sát mặt đất Đa truy cập Đa truy cập phân Kỹ thuật tiếp phân chia chia tần số Phân chia code Phân chia code nhận tín hiệu code FDMA L1=1602+k.60 ( k là số hiệu vệ E6=1278. Đoạn điều khiển (control segment) Đoạn điều khiển được thiết lập với mục đích để duy trì hoạt động của toàn bộ hệ thống định vị. Trạm điều khiển trung tâm có nhiệm vụ chủ yếu là hiệu chỉnh các tín hiệu, cập nhật thông tin đạo hàng truyền đi từ vệ tinh để chính xác hóa các thông tin đạo hàng, bảo đảm độ chính xác cần thiết cho công tác định vị. Đoạn điều khiển có 4 trạm quan sát có nhiệm vụ như sau: - Giám sát và điều khiển hệ thống vệ tinh liên tục; - Hiệu chỉnh liên tục các tham số quỹ đạo vệ tinh; - Dự đoán dữ liệu lịch thiên văn và hoạt động của đồng hồ trên vệ tinh; - Cập nhật định kỳ thông tin dẫn đường cho từng vệ tinh cụ thể.3: Các trạm điều khiển và kiểm tra của hệ thống GPS 1.
Đoạn sử dụng (User segment) Đoạn người sử dụng bao gồm dụng cụ thu tín hiệu vệ tinh, phần mềm xử lý tính toán số liệu, máy tính thu tín hiệu GNSS, có thể đặt cố định trên mặt đất hay gắn trên các phương tiện chuyển động như ô tô, máy bay, tàu biển, tên lửa. Dựa vào mục đích sử dụng mà người ta thiết kế cấu tạo ra các máy thu GNSS khác nhau. Có thể sử dụng 1 máy thu riêng biệt hoạt động độc lập (trường hợp định vị tuyệt đối) hay một nhóm gồm 2 máy thu trở lên, hoạt động đồng thời theo 1 lịch trình thời gian nhất định (trường hợp định vị tương đối) hoặc trường hợp hoạt động với máy thu đóng vai trò là máy chủ phát tín hiệu vô tuyến hiệu chỉnh cho các máy thu khác (trường hợp định vị vi phân). Trên thế giớ đã có nhiều hãng chế tạo máy thu GNSS như hãng Trimble Navigation (Mỹ), Ashtech (Mỹ), Minimax (Đức), Sokkia (Nhật), Leica (Thụy Sĩ),… 7 Hình 1.4: Một số loại máy thu tín hiệu GNSS 1.
Mã trải phổ, sóng mang Mỗi vệ tinh đều truyền hai tần số dùng cho công việc định vị là tần số 1575,42 MHz và tần số 1227,60 NHz. Hai sóng mang này gọi là L1 và L2, rất mạch lạc và được điều chế bởi những tín hiệu khác nhau. Mã nhiễu giải ngẫu nhiên (PRN) thứ nhất được biết dưới cái tên là mã C/A (Coarse/Acquisite-code), bao gồm một chuỗi các số cộng một và trừ một, được phát đi ở tần số fo/10= 1. Chuỗi này được lặp lại sau mỗi mili giây đồng hồ.
Mã nhiễu giải ngẫu nhiên (PRN) thứ hai, được biết dưới cái tên là mã P (Precise - code), bao gồm một chuỗi các số cộng một và trừ một khác, được phát đi ở tần số fo = 10,23 MHz. Chuỗi này chỉ lặp lại sau 267 ngày. Thời gian 267 ngày này được cắt ra làm 38 đoạn 7 ngày. Trong 38 đoạn này có một đoạn không dùng đến, 5 đoạn dùng cho các trạm mặt đất , theo dõi các tàu thuyền sử dụng, gọi là trạm giả vệ tinh (Pseudolite), còn lại 32 đoạn 7 ngày dành cho những vệ tinh khác nhau.
Mã Y (Y- code) là mã PRN tương tự như mã P, có thể dùng thay cho mã P. Tuy nhiên phương trình tạo ra mã P thì được công bố rộng rãi và không giữ bí mật, trong khi phương trình tạo ra mã Y thì giữ bí mật. Vì vậy, nếu mã Y được sử dụng thì những người sử dụng GPS không có giấy phép (nói chung là những người không thuộc quân đội Mỹ và đồng minh của họ) sẽ không thu được mã P (hoặc mã Y). 8 Sóng mang L1 được điều chế bằng cả 2 mã ( Mã-C/A và Mã`-P hoặc mã Y), trong khi sóng mang L2 chỉ bao gồm một Mã-P hoặc mã Y.
Các mã được điều chế trên sóng mang bằng cách giản đơn có ý thức. Nếu mã có trị số -1 thì phase sóng mang đổi 1800, còn nếu mã số có trị số +1 thì phase sóng mang giữ nguyên không thay đổi[3]. Cả hai sóng mang đều mang thông báo vệ tinh (Satellite message) cần phát dưới dạng một dòng dữ liệu được thiết kế ở tần số thấp (50Hz) để thông báo tới người sử dụng tình trạng và vị trí của vệ tinh. Các dữ liệu này sẽ được các máy thu giải mã và dùng vào việc xác định vị trí của máy theo thời gian thực 1.
Các nguồn gây ra sai số 1.1 Sai số do đồng hồ Đây là sai số của đồng hồ trên vệ tinh, đồng hồ trên máy thu và sự không đồng bộ của chúng. Đồng hồ trên vệ tinh được trạm điều khiển trên mặt đất theo dõi và do đó nếu phát hiện có sai lệch trạm này sẽ phát tín hiệu chỉ thị thông báo số cải chính cho máy thu GPS biết để xử lý. Để làm giảm ảnh hưởng sai số đồng hồ cả của vệ tinh và máy thu, người ta sử dụng hiệu các giá chitrị đo giữa các vệ tinh cũng như giữa các trạm quan sát.2 Sai số do quỹ đạo vệ tinh Chuyển động của vệ tinh trên quĩ đạo không tuân thủ nghiêm ngặt định luật Kepler do có nhiều tác động nhiễu như: Tính không đồng nhất của trọng trường trái đất, ảnh hưởng của sức hút của mặt trăng, mặt trời và của các thiên thể khác, sức cản của khí quyển, áp lực của bức xạ mặt trời,. Vị trí tức thời của vệ tinh chỉ có thể xác định theo mô hình chuyển động được xây dựng trên cơ sở các số liệu quan sát từ các trạm có độ chính xác cao trên mặt đất thuộc phần điều khiển của hệ thống GPS và đương nhiên có chứa sai số.
Có hai loại ephemerit được xác định từ kết quả hậu xử lý số liệu quan sát cho chính xác thời điểm nằm trong khoảng thời gian quan sát và ephemerit được ngoại suy từ các ephemerit nêu trên cho máy ngày tiếp theo, 9 loại ephemerit thứ nhất có độ chính xác ở mức 10 - 50 m, và chỉ được cung cấp khi được Chính phủ Mỹ cho phép, còn loại thứ 2 ở mức 20 -100 m và cho phép khách hàng sử dụng. Sai số vị trí của vệ tinh ảnh hưởng gần như trọn vẹn tới sai số xác định toạ độ của điểm quan trắc đơn riêng biệt, nhưng lại được loại trừ đáng kể trong kết quả định vị tương đối giữa hai điểm.3 Sai số do tầng điện ly và tầng đối lưu Ảnh hưởng tầng điện ly và tầng đối lưu đến tín hiệu vệ tinh cho đến nay vẫn là thách thức chủ yếu. Tầng đối lưu được tính từ mặt đất đến độ cao 50km và tầng điện ly ở độ cao từ 50km đến 1000km. Khi tín hiệu truyền từ vệ tinh với độ cao khoảng 20.200km đi qua tầng điện ly, tầng đối lưu đến máy thu đặt trên trái đất, nó bị khúc xạ và thay đổi tốc độ truyền tín hiệu.
Ảnh hưởng của tầng điện ly và tầng đối lưu gây nên gọi là độ trễ. Cả hai đều gây nên sai số hệ thống.