CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG MẶT ĐƯỜNG 1. Tổng quan về hệ thống quản lý chất lượng mặt đường mềm 1.1 Giới thiệu về lịch sử phát triển Năm 1920, Ban nghiên cứu Đường bộ của Mỹ được thành lập và thực hiện các nỗ lực nghiên cứu chính nhằm cải thiện các phương pháp xây dựng và thiết kế mặt đường. Có rất nhiều các nghiên cứu mang tính lý thuyết và thực nghiệm, bao gồm cả thí nghiệm đường AASHO1 nổi tiếng tại Ottawa thuộc bang Illinois từ năm 1958 đến 1961. Tiếp sau đó là chương trình nghiên cứu đường cho kế hoạch 5 năm từ 1987, tiếp tục nghiên cứu đường AASHO kết hợp với các vị trí thí nghiệm khác.
Cùng với việc này, năm 1960, AASHO khởi xướng nghiên cứu mang tính đột phá trong ngành mặt đường. Mục đích của nghiên cứu là nhằm cung cấp nền tảng lý thuyết cho việc mở rộng kết quả thí nghiệm đường AASHO, nhằm xây dựng luận đề cho công việc quản lý và thiết kế mặt đường mang tính toàn diện. Cuối những năm 60 và đầu nhũng năm 70, khái niệm hệ thống quản lý mặt đường bắt đầu được sử dụng để miêu tả toàn bộ các hoạt động tham gia trong việc cung cấp công trình mặt đường. Tiếp theo đó, có rất nhiều nỗ lực trong việc phát triển các cấu phần công nghệ của việc quản lý đường bộ và đưa vào thực hiện ở các mức độ địa phương và quốc gia.
Hiện nay, mạng lưới đường bộ đã và đang tương đối hoàn thiện ở rất nhiều nước, đặc biệt là các nước đã phát triển. Sự tập trung vào việc xây dựng các tuyến mới đã và đang chuyển dần sang việc quản lý và bảo trì hệ thống mạng lưới đường hiện có. Trong đó, hệ thống mặt đường không những cần nguồn vốn đầu tư rất lớn cho việc xây dựng ban đầu (thường chiếm từ 60 – 70 % tổng chi phí) mà còn cần nhiều chi phí cho các công tác quản lý và bảo trì sau này. Do vậy, hệ thống quản lý mặt đường (QLMĐ) đã được thiết lập nhằm giúp cho công tác quản lý và bảo trì đường bộ đem lại hiệu quả cao về kinh tế và đáp ứng mức độ phục vụ mong muốn trong 1 AASHO - American Association of State highway Officails -6- các điều kiện hạn chế, thường là nguồn vốn hạn hẹp và ràng buộc về chính sách cấp vốn.
Như đã nêu ở trên, hệ thống quản lý này được hình thành đầu tiên ở một số bang của Mỹ từ những năm 1960, sau đó đã được mở rộng và phát triển trong suốt những thập niên qua và đã đem lại nhiều lợi ích cho cộng đồng.2 Khái niệm chung Đường bộ là một hạng mục quan trọng nằm trong hệ thống khai thác vận tải đường bộ. Luật giao thông đường bộ ghi rõ: “Đường bộ đưa vào khai thác phải được quản lý và bảo trì ” với nội dung sau: (1) Theo dõi tình trạng công trình đường bộ, tổ chức giao thông, kiểm tra, thanh tra kết cấu hạ tầng đường bộ; (2) Bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa định kỳ và sửa chữa đột xuất. “Quản lý mặt đường” theo nghĩa rộng nhất là bao gồm các hoạt động có liên quan đến quy hoạch, thiết kế, thi công, khai thác và bảo trì đường bộ. “Quản lý mặt đường trong quá trình khai thác mặt đường” là bao gồm các phương pháp, công cụ và các hoạt động nói chung nhằm đánh giá tình trạng mặt đường, đánh giá những tác động đến mặt đường, đánh giá khả năng đáp ứng của mặt đường … và duy trì chất lượng mặt đường như ban đầu bảo đảm mang lại hiệu quả kinh tế - kỹ thuật.
Hệ thống quản lý mặt đường tên tiếng anh là Pavement Management System (viết tắt PMS), là một hệ thống bao gồm các công việc và tất cả các hoạt động cần thiết có tổ chức và kế hoạch của con người để phục vụ cho quá trình khai thác và bảo dưỡng mặt đường. Hệ thống quản lý mặt đường được sử dụng để thực hiện các chức năng liên quan đến lập kế hoạch và bảo dưỡng, sửa chữa mặt đường. Trong đó bao gồm cả việc dự báo tình trạng và điều kiện mặt đường trên mạng lưới đường bộ trong tương lai, các chi phí cần thiết để cải tạo, nâng cấp mặt đường theo thời gian, phục vụ chiến lược khai thác và bảo trì mặt đường ô tô. Trong quá trình quản lý khai thác công trình đường bộ thì quản lý khai thác mặt đường chiếm tới > 80% khối lượng công việc và chi phí bảo trì.
Mặt khác, những chỉ tiêu đánh giá chất lượng kỹ thuật công trình và chất lượng kỹ thuật giao thông cũng chủ yếu liên quan đến mặt đường. Vì thế, quản lý khai thác mặt đường rất -7- được chú trọng và quan tâm: không những đi sâu về nghiên cứu ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động, các phương pháp, giải pháp quản lý, kỹ thuật đánh giá xử lý… mà còn rất quan tâm đến hiệu quả mang lại từ công tác quản lý bảo trì 1.3 Tổng quan công tác quản lý mặt đường bộ tại một số nước trên thế giới Các nước trên thế giới có sự nhận thức rõ tầ m quan trọng của công tác quản lý và bảo trì đường bô ̣ và có những nỗ lực tâ ̣p trung cho công tác này theo hướng hiê ̣n đại hóa. Các chính sách, kế hoa ̣ch quản lý kế t cấ u ha ̣ tầ ng đường bô ̣ hướng đế n tăng cường công tác bảo trì dự phòng có mu ̣c tiêu là tăng tuổ i tho ̣ công trin ̀ h, giảm chi phí. Cùng với đó, những nỗ lực nhằ m tối ưu hóa viê ̣c sử du ̣ng các nguồn lực để quản lý thông qua sử du ̣ng công nghệ quản lý tiên tiế n, xét đế n tiń h khả thi về mă ̣t kỹ thuâ ̣t, điề u kiê ̣n tài chiń h thực tế và tốc độ phát triển kinh tế của mỗi nước trên thế giới mà mức độ áp dụng và triển khai mô hình hệ thống quản lý mặt đường (PMS) tại mỗi nước có thể khác nhau.
Hệ thống giao thông đường bộ đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia, tuy vậy việc đầu tư xây dựng hệ thống này tiêu tốn nguồn ngân sách rất lớn. Hiện nay, mạng lưới đường bộ đã tương đối hoàn thiện nhưng lại đang phải đối mặt với tình trạng hư hỏng và xuống cấp nghiêm trọng do việc tăng nhanh nhu cầu giao thông và hạn hẹp về nguồn vốn dành cho công tác bảo trì. Sự đầu tư và duy trì mạng lưới đường bộ luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong ngân sách, trong khi chi phí cho bảo trì và xây dựng lại mặt đường chiếm gần một nửa tổng chi phí cho đường bộ (FHWA, 1987; Haas và cộng sự, 1994) [13, 16]. Ngân hàng Thế giới (1988) đã tiến hành khảo sát trên 85 nước đang phát triển trong suốt hai thập kỷ và cho thấy rằng khoảng 45 tỷ đôla đã tổn thất do việc thực hiện công tác bảo trì mạng lưới đường không chính đáng.
Trong khi chỉ cần khoảng 12 tỷ đô la để thực hiện công tác bảo trì. Vai trò của công tác bảo trì càng trở nên quan trọng khi chi phí của nhà quản lý và người sử dụng đường được xem xét đồng thời. Các báo cáo kỹ thuật khác cũng chỉ ra những con số thống kê rằng nếu nhà quản lý bỏ ra 1 đôla cho công tác bảo trì thì người sử dụng sẽ tiết kiệm được 2 đến 3 đôla (Ngân hàng Thế giới, 1988; Ngân hàng Phát triển châu Á, 2003; NCHRP, 2004)14. Ngày -8- nay, mạng lưới đường bộ trên khắp thế giới đang chịu hư hỏng nặng nề do nhu cầu giao thông ngày càng tăng, trong khi đó chi phí để phát triển và bảo trì mạng lưới đường thì bị giảm đi ở các nước phát triển và bị hạn chế ở các quốc gia đang phát triển.
Bởi vậy, những đề xuất giải pháp hiệu quả rất cần thiết để quản lý những vốn đầu tư vào hệ thống mặt đường, nhằm cho việc cung cấp những con đường không chỉ an toàn và thuận lợi, mà còn đem lại lợi ích lớn cho xã hội.4 Tổng quan công tác quản lý mặt đường bộ tại Việt Nam Ở Việt Nam công tác quản lý khai thác đường nói chung và quản lý khai thác mặt đường nói riêng ở những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước chưa được coi trọng. Đã có thời kỳ giảm phần lớn chức năng quan trọng của Cục đường bộ thuộc Bộ Giao thông vận tải, giải thể nhiều đơn vị chuyên ngành giao thông đô thị thuộc Bộ xây dựng. Điều này cộng với đà suy giảm kinh tế ở cùng thời kỳ đã làm cho đường bộ và kết cấu hạ tầng giao thông ở nước ta không còn được coi trọng. Sau đó, bắt đầu công việc đổi mới và quá trình khôi phục phát triển, Nhà nước đã giành cho ngành GTVT một tỷ lệ ngân sách khá lớn hàng năm để xây dựng hạ tầng.
Hàng nghìn cây số đường bộ, hàng nghìn mét cầu có chất lượng khá cao đưa vào khai thác. Về cơ bản Hạ tầng giao thông đã đóng góp có hiệu quả vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, báo cáo Dự án nâng cấp mạng lưới Quốc lộ Việt Nam (RNIP, 2004)[1] cho thấy, khoảng 40% mạng lưới đường quốc lộ ở tình trạng xấu và rất xấu. Trong khi đó, nguồn vốn hiện tại dành cho bảo trì mạng lưới chỉ vào khoảng 60% chi phí cần để duy trì mạng lưới đường ở điều kiện hiện có.
Vấn đề này đã đặt ra những thách thức cho công tác quản lý và bảo trì hệ thống mặt đường sao có hiệu quả và kinh tế nhất trong điều kiện hạn hẹp về nguồn ngân sách. Việc xây dựng hệ thống quản lý mạng lưới đường hiệu quả phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như là nguồn tài chính, cơ chế và chính sách quản lý, nguồn lực con người và các vấn đề về kỹ thuật. Công tác bảo trì chưa có những kế hoạch công việc và có những kế hoạch về việc phân bổ vốn cho công tác quản lý và bảo trì mạng lưới đường trong nhiều năm liên tiếp. Trong quá trình phát triển xét về phương diện kinh tế - kỹ thuật chúng ta cần xem xét một số những bất cập dưới đây: -9- o Nhiều công trình xây dựng xong đưa vào khai thác không có hoặc rất kém hiệu quả.
Lỗi này chủ yếu thuộc về chủ trương, người lập dự án khả thi. Rất hiếm khi xảy ra trường hợp khi đề xuất khả năng đầu tư dự án để sau đó lập dự án khả thi lại cho kết luận là dự án không khả thi.