CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ VÀ ÙN TẮC GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 1.1 HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 1.1 Giới thiệu và xây dựng những khái niệm, thuật ngữ chính 1.1 Khái niệm về đô thị (1) Theo Luật quy hoạch đô thị (Số 30/2009/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2009) Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vự kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn. Đô thị mới là đô thị dự kiến hình thành trong tương laitheo định hướng qui hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia, được đầu tư xây dựng từng bước đạt các tiêu chí của đô thị theo qui định của pháp luật. Khu đô thị mới là một khu vực trong đô thị, được đầu tư xây dựng mới đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở. (2) Theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về quy hoạch xây dựng QCXD01- 2008 Đô thị là điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một vúng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng đô thị thích hợp và có quy mô dân số thành thị tối thiểu là 4.000 người (đối với miền núi tối thiểu là 2.800 người) với tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65%.
Đô thị gồm các loại: Thành phố, thị xã và thị trấn. Đô thị bao gồm các khu chức năng đô thị. Khu đô thị là khu vực xây dựng một hay nhiều khu chức năng của đô thị, được giới hạn bởi các ranh giới tự nhiên, ranh giới nhân tạo hoặc các đường chính đô thị. Khu đô thị bao gồm: Các đơn vị ở, các công trình dịch vụ cho bản thân khu đô thị đó, có thể có các công trình dịch vụ chung của toàn bộ đô thị hoặc cấp vùng.
Cấu trúc của khu đô thị và đô thị là gồm hạ tầng kỹ thuật đô thị và hạ tầng xã hội đô thị: - Hạ tầng kỹ thuật đô thị gồm các công trình sau: + Hệ thống giao thông. + Hệ thống cung cấp năng lượng. + Hệ thống chiếu sáng công cộng. + Hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước.
+ Hệ thống quản lý chất thải, vệ sinh môi trường. + Hệ thống nghĩa trang. + Các công trình hạ tầng kỹ thuật khác. - Hạ tầng xã hội đô thị gồm các mục sau: + Các công trình nhà ở.
+ Các công trình công cộng, dịch vụ, y tế, văn hoá, giáo dục, thể 11 dục thể thao, thương mại và các công trình dịch vụ đô thị khác. + Các công trình quảng trường, công viên, cây xanh, mặt nước. + Các công trình cơ quan hành chính đô thị. + Các công trình hạ tầng xã hội khác.
Qui định chung: Đô thị là một khu dân cư tập trung có đủ 2 điều kiện: - Về cấp quản lý: Là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập. - Về trình độ phát triển: Đô thị phải đạt được 5 tiêu chuẩn + Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: Vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện. + Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động. + Quy mô dân số ít nhất là 4.
+ Mật độ tối thiểu phải đạt 2.000 người/km2. + Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn.2 Lưu lượng giao thông, năng lực thông hành và mức độ phục vụ: (1) Theo tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị TCXDVN107-2007 Lưu lượng giao thông: là số xe, người (đơn vị vật lý) thông qua một mặt cắt đường trong một đơn vị thời gian, tính ở thời điểm xét (Xe ở đây có thể là một loại hoặc nhiều loại phương tiện giao thông thông hành trên đường, phố). Lưu lượng xe trung bình ngày đêm trong năm tương lai (năm tính toán) được viết tắt là Ntbnăm, được xác định từ lưu lượng năm tính toán chia cho số ngày trong năm. Giá trị lưu lượng này được dự báo theo các cách khác nhau và được dùng để tham khảo chọn cấp hạng đường, và tính toán một số yếu tố khác.
Lưu lượng xe thiết kế theo giờ (viết tắt Ngiờ) là lưu lượng xe giờ cao điểm ở năm tương lai. Lưu lượng này dùng để tính toán số làn xe, xét chất lượng dòng (mức phục vụ) và tổ chức giao thông. Khả năng thông hành của đường phố là suất dòng lớn nhất theo giờ mà các phương tiện có thể thông qua một mặt cắt (làn, nhóm làn) dưới điều kiện đường, giao thông, môi trường nhất định. Suất dòng lớn nhất theo giờ: là số lượng xe lớn nhất của giờ cao điểm được tính thông qua 15 phút cao điểm của giờ đó (lưu lượng xe 15 phút cao điểm x 4), (xeqđ/h).
Mức phục vụ là thước đo về chất lượng vận hành của dòng giao thông, mà người điều khiển phương tiện và hành khách nhận biết được. Mức phục vụ được chia làm 6 cấp khác nhau, ký hiệu là A,B,C,D,E,F. Ở mức A - chất lượng phục vụ tốt nhất và mức F – chất lượng phục vụ kém nhất. Hệ số sử dụng khả năng thông hành (Z) là tỉ số giữa lưu lượng xe thiết kế (N) với khả năng thông hành tính toán (Ptt).
Hệ số sử dụng KNTH là một thông số đại diện để cụ thể hoá mức phục vụ của một con đường khi thiết kế. 12 Khi chất lượng dòng càng cao tức là yêu cầu tốc độ chạy xe càng lớn, hệ số Z càng nhỏ. Ngược lại, khi Z tăng dần thì tốc độ chạy xe trung bình của dòng xe giảm dần và đến một giá trị nhất định sẽ xảy ra tắc xe (Z~1). Mức phục vụ thiết kế và hệ số sử dụng KNTH được sử dụng khi thiết kế đường phố được quy định ở bảng 1.1 Mức phục vụ và hệ số sử dụng KNTH thiết kế của đường phố[2] Cấp Tốc độ thiết Mức độ phục Hệ số sử Loại đường kỹ thuật kế (km/h) vụ dụng KNTH 100 100 0,6-0,7 Đường cao tốc 80 80 C 0,7-0,8 đô thị 70 70 0,7-0,8 80 80 0,7-0,8 Đường phố 70 70 0,7-0,8 C chính đô thị 60 60 0,8 50 50 0,8 60 60 0,8 Đường phố 50 50 D 0,8-0,9 gom 40 40 0,8-0,9 40 40 D 0,8-0,9 Đường phố nội bộ 30 30 0,9 E 20 20 0,9 (2) Theo [40]: NLTH cũng là cường độ dòng xe giờ lớn nhất, tại đó dòng người hoặc phương tiện được dự đoán có thể qua một cách hợp lý một điểm hoặc một đoạn đường đồng nhất trên một làn hoặc đoạn đường trong 1 khoảng thời gian nhất định trong điều kiện phổ biến về đường, giao thông và điều khiển.
Như vậy: + NLTH phụ thuộc vào điều kiện phổ biến như: - Điều kiện giao thông thể hiện dòng xe hỗn hợp nhiều loại xe, điều kiện giao thông cũng kể đến các đặc tính giờ cao điểm, thành phần rẽ và các đặc trưng khác phản ánh bản chất của nhu cầu giao thông. - Điều kiện đường là đề cập đến đặc tính hình học của đường (số làn, bề rộng đường, độ dốc, đường cong). - Điều khiển: Biển báo, tín hiệu và phần lớn là các nút giao.3 Khái niệm về giao thông đường bộ đô thị Theo tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị TCXDVN 104-2007 định nghĩa: Đường đô thị (hay đường phố): là đường bộ trong đô thị bao gồm phố, đường ô tô thông thường và các đường chuyên dụng khác. Đường ô tô (trong đô thị): là đường trong đô thị, hai bên đường không hoặc rất ít được xây dựng nhà cửa, đây là đường phục vụ giao thông là chủ yếu (đường cao tốc, đường quốc lộ, đường vận tải nối giữa các xí nghiệp, kho tàng, bến bãi.
13 Giao thông đường bộ, trong đó chủ đạo là giao thông ô tô, có tính linh hoạt cao, cho phép hoạt động trong bất cứ thời điểm nào, có thể huy động một lượng lớn phương tiện khi cần thiết. Tính chất linh hoạt của giao thông ô tô, có tính linh hoạt cao, cho phép hoạt động trong bất cứ thời điểm nào, có thể huy động một lượng lớn phương tiện khi cần thiết và cho phép phân phối hàng hóa trực tiếp từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, điều đó rút ngắn được thời gian, sử dụng hiệu quả nguồn vốn, v.4 Tổ chức giao thông Là những biện pháp tổ chức và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả giao thông đô thị. Tổ chức giao thông là yếu tố quan trọng để góp phần giúp cho giao thông ở đô thị được hiệu quả hơn, thuận lợi hơn.2 Phân loại mạng lưới đường bộ trong đô thị Trong công tác quy hoạch đô thị và quy hoạch GTĐT, tùy theo tính chất mối quan hệ của giao thông đô thị, hệ thống GTĐT bao gồm [2]: Hệ thống giao thông đối ngoại: Đảm nhận vai trò vận tải đối ngoại của đô thị. Hệ thống giao thông nội thị: Đảm nhận vai trò vận tải nội bộ trong đô thị.
Hệ thống giao thông chuyên dùng: Phục vụ nhà máy, kho tàng, bến cảng, v.v… mang tính chất chuyên dụng.2 ÙN TẮC GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 1.1 Khái niệm Theo [38] định nghĩa: Ùn tắc giao thông (UTGT) được định nghĩa như là một trạng thái của sự chậm trễ khi tốc độ dòng giao thông bị chậm lại dưới tốc độ hợp lý do lưu lượng xe vượt quá năng lực thông hành của đường. Hậu quả của UTGT tác động tiêu cực đối với người dân. UTGT có biến đổi cả về không gian và thời gian: (1) Không gian ùn tắc: Có thể ở trên khu vực rộng hoặc một địa điểm cụ thể nào đó. (2) Thời gian ùn tắc: Có thể xảy ra trong vào giờ cao điểm buổi sáng hoặc buổi chiều hoặc trong giai đoạn cao điểm.
Ngoài ra UTGT có thể xảy ra ngẫu nhiên vào thời điểm không được dự báo (không thường xuyên ở lần ngẩu nhiên) là hậu quả của tai nạn giao thông hoặc sự cố giao thông. Theo [37] định nghĩa: Trong giao thông, ùn tắc nghĩa là tình trạng có quá nhiều phương tiện giao thông ở trên đoạn đường vào một thời điểm cụ thể mà kết quả là dẫn đến tốc độ của phương tiện chậm lại, đôi khi chậm hơn nhiều so với tốc độ bình thường hoặc là không thể di chuyển.