Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần An Bình- chi nhánh Hà Nội. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần An Bình- chi nhánh Hà Nội. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Cạnh tranh của ngân hàng thương mại Cạnh tranh là tất yếu của thương trường. Cạnh tranh là sự so sánh, đối chứng sức mạnh cơ bản của các doanh nghiệp. Những đe doạ, thách thức hay cơ hội của doanh nghiệp chủ yếu có được từ quá trình đối kháng của sức mạnh này.
Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau nên có rất nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Các Mác đã đưa ra khái niệm về cạnh tranh tư bản như sau: “Cạnh tranh tư bản là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để đạt lợi nhuận siêu ngạch”. Cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ bằng những biện pháp ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh tế, chính trị, tâm lý. để tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra nhiều sản phẩm mới với năng suất và hiệu quả cao nhất.
Trong một ngành kinh doanh, mọi điều kiện bên ngoài là bình đẳng, sau một chu kỳ nhất định, ai giành được thị phần lớn nhất, có lợi nhuận cao nhất, phát triển một cách bền vững nhất thì người đó giành chiến thắng trong cạnh tranh. Tuy nhiên, trong cạnh tranh sẽ phát sinh ra người có khả năng cạnh tranh mạnh hoặc yếu hay sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh hoặc yếu. Để có thể chiến thắng trong cạnh tranh thì các chủ thể cạnh tranh cần phải có khả năng cạnh tranh, mà khả năng cạnh tranh đó chính là sức cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh. Theo quan điểm của nhà kinh tế học P.Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự ình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành hách hàng, thị trường” [14] 8 Theo từ điển bách khoa của Việt Nam thì: “Cạnh tranh trong inh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà inh doanh trong nền inh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều iện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất [9].
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng là một loại doanh nghiệp đặc biệt, nhằm “mua” và “bán” một lợi ích có liên quan tới tài chính song không tồn tại dưới dạng vật chất. Đã là doanh nghiệp thì khái niệm cạnh tranh của doanh nghiệp cũng đúng cho các NHTM. Trên quan điểm này, cạnh tranh của NHTM được hiểu là một quá trình mà trong đó các doanh nghiệp đấu tranh, ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật inh doanh lẫn thủ đoạn) để thoả mãn nhu cầu của hách hàng tối đa, thông qua đó đạt được các mục tiêu inh tế chủ yếu của mình như lợi nhuận, thị phần và vị thế inh doanh. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một tỉ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỉ lệ đòi hỏi tài trợ cho những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu doanh nghiệp đặt ra [16].
Theo Michael Porter: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp khả năng nắm giữ và chiếm lĩnh thị trường của chủ thể tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt được hiệu quả tối ưu trong một môi trường kinh doanh cụ thể”[14] Theo Warner, Trung tâm kinh tế quốc tế Australia, thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là năng lực tồn tại và phát triển mà không cần sự hỗ trợ của Nhà nước. Theo Van Duren thì năng lực cạnh tranh của NHTM được hiểu là năng lực tìm kiếm lợi nhuận và duy trì thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước [16]. 9 Như vậy, trên thực tế đang tồn tại rất nhiều quan niệm về năng lực cạnh tranh, song tựu trung lại, có 4 vấn đề cơ bản sau: Một là, trong điều kiện kinh tế thị trường, phải lấy yêu cầu của khách hàng là chuẩn mực đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi lẽ yêu cầu của khách hàng vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sản xuất, kinh doanh.
Cùng một loại sản phẩm, các nhóm khách hàng khác nhau sẽ có những nhu cầu rất khác nhau. Hai là, yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh trong việc lôi kéo khách hàng phải là thực lực của doanh nghiệp. Thực lực này chủ yếu được tạo thành từ những yếu tố nội tại của doanh nghiệp và được thể hiện ở uy tín của doanh nghiệp. Ba là, khi nói tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp luôn hàm ý so sánh với doanh nghiệp hữu quan (các đối thủ cạnh tranh) cùng hoạt động trên thị trường.
Muốn tạo nên sức mạnh thực thụ, doanh nghiệp phải tạo nên lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh. Nhờ có lợi thế này, doanh nghiệp có thể giữ được khách hàng của mình và lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh. Bốn là, các biểu hiện sức cạnh tranh của doanh nghiệp có quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Một doanh nghiệp có sức cạnh tranh mạnh khi có khả năng thoả mãn đầy đủ nhất tất cả những yêu cầu của khách hàng.
Song khó có doanh nghiệp nào đạt được điều này vì thường có lợi thế về mặt này lại yếu thế về mặt khác. Bởi vậy, việc đánh giá đúng đắn những mặt mạnh và mặt yếu của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với việc tìm giải pháp tăng năng lực cạnh tranh. NHTM là doanh nghiệp, nhưng hoạt động ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, đó là kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính có liên quan. Như vậy, năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM là sự tổng hợp tất cả hả năng của ngân hàng đáp ứng được nhu cầu hách hàng về việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao, đa dạng và phong phú, tiện ích và thuận lợi, có tính độc đáo so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại trên thị trường, tạo ra được lợi thế cạnh tranh, 10 làm tăng lợi nhuận hàng năm của các ngân hàng, tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế cao trên thị trường, có hả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường inh doanh.
“Năng lực cạnh tranh của NHTM là hả năng ngân hàng tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn hơn, tạo ra lợi nhuận cao và phát triển bền vững” [17] 1. Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Từ những cơ sở lý luận về “Năng lực cạnh tranh”, có thể thấy việc nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM được hiểu là xây dựng các giải pháp trên cơ sở: - Nắm được năng lực cốt lõi của chính trong chuỗi giá trị để khai thác, tối đa hóa giá trị và giá trị gia tăng của sản phẩm dịch vụ thông qua tính khác biệt của sản phẩm dịch vụ so với NH khác nhằm tạo lợi thế cạnh tranh. - Nâng cao sức cạnh tranh là xây dựng các giải pháp với lộ trình cụ thể làm tăng hiệu quả của từng yếu tố trực tiếp cũng như các yếu tố bổ trợ trong chuỗi giá trị. - Xác định điểm mạnh, điểm yếu và lợi thế của NHTM cũng như những thuận lợi, khó khăn của môi trường là luận cứ đề ra các giải pháp thích hợp để phát triển.
Nội dung nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại 1. Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Cạnh tranh bằng sản phẩm bao hàm sự đa dạng của sản phẩm, sự khác biệt hóa của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh, tính năng và giá trị sản phẩm mang lại cho khách hàng, đáp ứng nhu cầu về hiệu quả tài chính và sự hài lòng của khách hàng. Cạnh tranh bằng sản phẩm là hình thức cạnh tranh đa dạng, tinh vi và được đánh già là hiệu quả, bền vững nhất, thể hiện qua các nội dung: Cạnh tranh bằng sản phẩm là hình thức cạnh tranh đa dạng, tinh vi và được đánh giá là hiệu quả, bền vững nhất, thể hiện qua các nội dung: 11 - Đa dạng hóa sản phẩm: kinh tế càng phát triển, nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng. Các đối tượng khách hàng khác nhau lại có nhu cầu về sản phẩm khác nhau.
Do đó, các ngân hàng ngày càng triển khai nhiều sản phẩm hơn nhằm thỏa mãn tối đa các nhu cầu khách hàng, thu hút nhiều đối tượng khách hàng. Để đa dạng hóa các sản phẩm các ngân hàng cần tìm hiểu nhu cầu thị hiếu khách hàng, phân khúc khách hàng từ đó đưa ra các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với từng đối tượng khách hàng trong các phân khúc khác nhau. - Khác biệt hóa sản phẩm: Khi các ngân hàng đều cố gắng đưa ra một danh mục các sản phẩm dịch vụ đa dạng để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng thì việc khác biệt hóa sản phẩm là một chiến lược cạnh tranh sáng suốt và hiệu quả. Khác biệt hóa sản phẩm tạo dấu ấn riêng cho sản phẩm của mỗi ngân hàng, thậm chí ngân hàng có thể tạo khác biệt đến từng khách hàng thông qua cách thức nhận biết nhu cầu khách hàng, cách thức tiếp cận và phục vụ chăm sóc khách hàng.
Khác biệt hóa sản phẩm là cách thức hiệu quả nhất để khuyến khích sự trung thành của khách hàng. Cạnh tranh bằng khác biệt hóa sản phẩm thường đi cùng với chiến lược khách hàng trọng tâm, vì khi hướng vào một nhóm đối tượng khách hàng nhất định, việc tạo ra các khác biệt cho sản phẩm sẽ thỏa mãn cao nhất nhu cầu của khách hàng. - Gia tăng tính năng, tiện ích, chất lượng của sản phẩm: Nhằm tạo cho khách hàng thấy thỏa mãn, yên tâm, hài lòng khi sử dụng dịch vụ, ngân hàng không ngừng cải tạo chất lượng dịch vụ để dịch vụ tốt hơn, nhanh hơn, an toàn hơn và tạo thêm các giá trị gia tăng cho sản phẩm.