Luận văn thạc sĩ kinh tế: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Ninh Bình trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế - Lê Thị Hải Tuyến

Khám phá giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp xây dựng Ninh Bình trong quá trình hội nhập kinh tế. Phân tích chiến lược phát triển bền vững

Trường đại học

Trường Đại học Thủy Lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

162
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về khả năng cạnh tranh trong tư vấn xây dựng

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng là năng lực duy trì và mở rộng thị phần trong môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp. Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức. Doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với các đối thủ nước ngoài có tiềm lực tài chính mạnh và công nghệ tiên tiến. Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Ninh Bình là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tư vấn thiết kế, khảo sát và giám sát công trình. Sản phẩm của công ty là kết quả trí tuệ, không chỉ phản ánh năng lực kỹ thuật mà còn thể hiện khả năng tổng hợp kiến thức chính trị, kinh tế và xã hội. Chất lượng dịch vụ tư vấn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư của chủ đầu tư. Năng lực cạnh tranh được đánh giá qua nhiều tiêu chí: chất lượng sản phẩm, giá cả, thời gian thực hiện và uy tín thương hiệu. Trong bối cảnh hội nhập, chuỗi giá trị của doanh nghiệp phải được tối ưu hóa ở mọi khâu từ đầu vào đến dịch vụ sau bán hàng. Đây là nền tảng lý thuyết để phân tích và đề xuất giải pháp cụ thể cho Công ty CP Tư vấn Xây dựng Ninh Bình.

1.1. Khái niệm và lý thuyết cạnh tranh trong doanh nghiệp tư vấn

Lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter xác định năm lực lượng tác động đến môi trường cạnh tranh: đối thủ hiện tại, đối thủ tiềm năng, nhà cung cấp, khách hàng và sản phẩm thay thế. Mô hình chuỗi giá trị phân chia hoạt động doanh nghiệp thành hai nhóm chính: hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ. Hoạt động chính bao gồm hậu cần đầu vào, sản xuất, hậu cần đầu ra, marketing và dịch vụ sau bán hàng. Hoạt động hỗ trợ bao gồm cơ sở hạ tầng, quản trị nhân lực và phát triển công nghệ. Mỗi hoạt động đều tạo ra giá trị và phát sinh chi phí. Lợi thế cạnh tranh xuất hiện khi giá trị tạo ra vượt tổng chi phí thực hiện.

1.2. Đặc điểm kinh doanh của đơn vị tư vấn xây dựng tại Việt Nam

Tư vấn xây dựng là lĩnh vực kinh doanh tri thức đặc thù. Đơn vị tư vấn đóng vai trò phiên dịch ngôn ngữ chuyên môn giữa chủ đầu tư và nhà thầu thi công. Sản phẩm tư vấn tồn tại dưới dạng hồ sơ thiết kế, bản vẽ và phần mềm kỹ thuật. Hoạt động tư vấn phải có điều kiện: tổ chức cần chứng chỉ năng lực hoạt động, cá nhân cần chứng chỉ hành nghề theo quy định pháp luật. Chất lượng khảo sát thiết kế không chính xác dẫn đến phát sinh chi phí và kéo dài tiến độ dự án. Vì vậy, uy tín và năng lực chuyên môn là yếu tố cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp tư vấn xây dựng.

II. Phân tích thực trạng cạnh tranh của Công ty CP Tư vấn Xây dựng Ninh Bình

Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Ninh Bình hoạt động trong bối cảnh thị trường xây dựng Việt Nam tăng trưởng mạnh nhưng cạnh tranh gay gắt. Giai đoạn 2005-2010 chứng kiến sự gia tăng đáng kể số lượng công ty tư vấn, từ doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đến đơn vị tư nhân và liên doanh nước ngoài. Công ty có lợi thế về am hiểu thị trường địa phương và quan hệ với chủ đầu tư tại tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên, năng lực tài chính hạn chế làm giảm khả năng đầu tư công nghệ và nhân lực chất lượng cao. Thị phần của công ty chủ yếu tập trung vào các dự án vừa và nhỏ trong khu vực. Dự án quy mô lớn thường bị mất vào tay các đơn vị có kinh nghiệm dày dạn hơn. Ma trận SWOT cho thấy điểm mạnh nằm ở kinh nghiệm địa phương và mạng lưới quan hệ, điểm yếu ở công nghệ và nguồn vốn. Cơ hội đến từ nhu cầu hạ tầng tăng cao sau hội nhập WTO. Thách thức lớn nhất là sự thâm nhập của công ty tư vấn nước ngoài với lợi thế công nghệ vượt trội. Phân tích thực trạng này là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh phù hợp.

2.1. Điểm mạnh và điểm yếu trong năng lực nội tại của công ty

Điểm mạnh nổi bật của Công ty CP Tư vấn Xây dựng Ninh Bình là đội ngũ kỹ sư giàu kinh nghiệm thực tế tại thị trường địa phương. Mối quan hệ lâu dài với các chủ đầu tư tỉnh Ninh Bình tạo lợi thế trong đấu thầu dự án công. Quy trình làm việc linh hoạt giúp đáp ứng nhanh yêu cầu thay đổi của khách hàng. Điểm yếu chính là thiếu hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO. Công nghệ thiết kế chưa được cập nhật thường xuyên. Năng lực tài chính hạn chế ảnh hưởng đến khả năng tham gia đấu thầu dự án giá trị lớn và thu hút nhân tài từ các trung tâm đô thị lớn.

2.2. Cơ hội và thách thức từ hội nhập kinh tế quốc tế

Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 mở ra làn sóng đầu tư hạ tầng mạnh mẽ. Nhu cầu tư vấn xây dựng tăng cao ở các lĩnh vực giao thông, thủy lợi, khu công nghiệp và đô thị mới. Đây là cơ hội trực tiếp cho các công ty tư vấn có định vị tốt. Tuy nhiên, hội nhập cũng kéo theo áp lực từ các công ty tư vấn quốc tế với tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn và kinh nghiệm dự án đa dạng. Yêu cầu về chứng chỉ quốc tế, phần mềm BIM và năng lực ngoại ngữ ngày càng quan trọng trong đấu thầu dự án có vốn ODA và FDI. Đây là thách thức mà công ty cần vượt qua để tồn tại bền vững.

III. Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế

Để nâng cao khả năng cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập, Công ty CP Tư vấn Xây dựng Ninh Bình cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Nhóm giải pháp đầu tiên là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây là yếu tố quyết định trong ngành tư vấn tri thức. Cần xây dựng chương trình đào tạo nội bộ, khuyến khích nhân viên lấy chứng chỉ hành nghề quốc tế và phát triển kỹ năng ngoại ngữ. Nhóm giải pháp thứ hai là hiện đại hóa công nghệ thiết kế. Đầu tư vào phần mềm CAD, BIM và hệ thống quản lý dự án giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Nhóm giải pháp thứ ba là tăng cường năng lực tài chính thông qua mở rộng vốn cổ phần và hợp tác chiến lược. Nhóm giải pháp thứ tư là phát triển thương hiệu và mạng lưới quan hệ khách hàng. Công ty nên xây dựng hồ sơ năng lực chuyên nghiệp, tham gia các hiệp hội ngành nghề và thiết lập quan hệ đối tác với các đơn vị tư vấn lớn trong và ngoài nước. Mỗi giải pháp cần có lộ trình thực hiện rõ ràng với chỉ tiêu đo lường cụ thể để đảm bảo hiệu quả.

3.1. Phát triển nguồn nhân lực và công nghệ thiết kế hiện đại

Nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp tư vấn. Công ty cần xây dựng chính sách lương thưởng cạnh tranh để thu hút kỹ sư giỏi từ các trường đại học kỹ thuật hàng đầu. Chương trình đào tạo nội bộ hàng năm nên bao gồm kỹ năng chuyên môn, quản lý dự án và ngoại ngữ. Đầu tư vào phần mềm AutoCAD, Revit và các công cụ BIM giúp tăng độ chính xác thiết kế và rút ngắn thời gian hoàn thiện hồ sơ. Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 tạo nền tảng cho việc mở rộng thị trường sang các dự án quốc tế và dự án vốn ODA đòi hỏi tiêu chuẩn cao.

3.2. Chiến lược mở rộng thị trường và xây dựng thương hiệu

Chiến lược thị trường cần được phân tầng rõ ràng: củng cố thị phần tại Ninh Bình và mở rộng sang các tỉnh lân cận như Nam Định, Hà Nam và Thanh Hóa. Tham gia tích cực vào các gói thầu tư vấn của Bộ Nông nghiệp, Bộ Giao thông và các dự án ODA giúp nâng cao uy tín và kinh nghiệm. Xây dựng website chuyên nghiệp và hồ sơ năng lực cập nhật theo chuẩn quốc tế hỗ trợ quá trình đấu thầu. Thiết lập liên danh với các công ty tư vấn lớn cho phép tiếp cận dự án quy mô lớn trong khi tích lũy kinh nghiệm và năng lực kỹ thuật cần thiết cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

IV. Kết luận và ứng dụng cho doanh nghiệp tư vấn xây dựng Việt Nam

Luận văn của tác giả Lê Thị Hải Tuyến cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng và hướng phát triển của Công ty CP Tư vấn Xây dựng Ninh Bình. Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng rộng hơn cho các doanh nghiệp tư vấn xây dựng quy mô vừa và nhỏ tại Việt Nam đang đối mặt với bài toán hội nhập. Ba kết luận cốt lõi được rút ra từ nghiên cứu. Thứ nhất, lợi thế cạnh tranh bền vững phải dựa trên năng lực tri thức và chất lượng sản phẩm, không chỉ dựa vào quan hệ và giá thấp. Thứ hai, đầu tư vào công nghệ và nhân lực là ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn hội nhập. Thứ ba, chiến lược liên kết và hợp tác là con đường tắt để nâng cao năng lực trong thời gian ngắn. Mô hình nghiên cứu kết hợp lý thuyết Porter với phân tích SWOT và chuỗi giá trị là khung phân tích phù hợp cho loại hình doanh nghiệp này. Các doanh nghiệp tư vấn xây dựng tỉnh lẻ nên tham khảo lộ trình được đề xuất để xây dựng chiến lược cạnh tranh riêng. Trong dài hạn, chỉ những doanh nghiệp đầu tư nghiêm túc vào chất lượng mới có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh toàn cầu.

4.1. Đóng góp lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về khả năng cạnh tranh áp dụng cho đặc thù doanh nghiệp tư vấn xây dựng Việt Nam. Đây là đóng góp có giá trị vì tài liệu nghiên cứu về loại hình doanh nghiệp này còn hạn chế trong văn liệu học thuật trong nước. Về mặt thực tiễn, bộ giải pháp được đề xuất dựa trên dữ liệu thực tế thu thập từ công ty, không mang tính chung chung. Kết quả khảo sát khách hàng và phân tích đối thủ cạnh tranh cung cấp thông tin nền quan trọng cho ban lãnh đạo công ty trong việc ra quyết định chiến lược giai đoạn 2010-2015.

4.2. Khuyến nghị chính sách cho ngành tư vấn xây dựng Việt Nam

Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện năng lực hoạt động tư vấn xây dựng theo hướng hội nhập tiêu chuẩn quốc tế. Chính sách ưu tiên nhà thầu trong nước trong đấu thầu dự án vốn ngân sách nhà nước nên đi kèm yêu cầu nâng cao tiêu chuẩn kỹ thuật tránh bảo hộ thụ động. Các hiệp hội tư vấn xây dựng cần tăng cường vai trò kết nối, đào tạo và chia sẻ thông tin thị trường giữa các doanh nghiệp thành viên. Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận tín dụng ưu đãi để đầu tư công nghệ sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của ngành tư vấn xây dựng Việt Nam trên sân chơi quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần tư vấn xây dựng ninh bình trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Một số vấn đề lý luận về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Lý luận chung về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.1 Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế là tối đa hoá lợi ích, đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với khách hàng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.

Cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế có những đặc trưng cơ bản sau: - Mang bản chất của mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau. Nói đến cạnh tranh là nói đến một quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể. Nếu chỉ có một chủ thể (độc quyền) thì không có cạnh tranh, nhưng nếu có nhiều chủ thể mà không cùng một mục tiêu thì cạnh tranh, sức ép cạnh tranh cũng giảm xuống. Do vậy, các chủ thể phải có cùng mục tiêu thì mới xảy ra cạnh tranh.

Các doanh nghiệp cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận tối đa, vì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp thông qua duy trì và gia tăng thị phần, phát triển thị trường. Còn khách hàng thì có mục tiêu chung là tối đa hoá mức độ thoả mãn hay sự tiện lợi khi tiêu dùng sản phẩm. - Các chủ thể cạnh tranh đều phải tuân thủ những ràng buộc chung được quy định thành văn hoặc bất thành văn. Những ràng buộc này có thể là hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế; các thông lệ và tập quán kinh doanh trên các thị trường hoặc trên một thị trường cụ thể; đặc điểm nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.

Những ràng buộc này thường do Nhà nước quy định nhằm hướng tới sự cạnh tranh mang tính lành mạnh. Lớp Cao học 16KT Lê Thị Hải Tuyến 13 Luận văn thạc sĩ kinh tế Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thế Hòa - Phương pháp cạnh tranh rất đa dạng, không chỉ dừng lại ở việc bán giá thấp hay nâng cao chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp có thể cạnh tranh bằng sự đa dạng về chủng loại sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng, cạnh tranh bằng các công cụ xúc tiến bán hàng, bằng các dịch vụ khách hàng hoàn hảo hơn.

- Cạnh tranh thường diễn ra trong khoảng thời gian và không gian cố định. Không nên quan niệm cứng nhắc rằng cạnh tranh chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp trên cùng một thị trường. Trong môi trường kinh doanh sôi động và biến đổi nhanh chóng, cạnh tranh không chỉ với mục đích gia tăng thị phần trên thị trường hiện tại mà quan trọng hơn là phát triển các thị trường mới. Thị trường ở đây dùng với nghĩa một phân đoạn thị trường hoặc một khu vực thị trường xét về mặt địa lý.

Như vậy, việc tìm kiếm và phát triển thị trường mới cũng là một cách cạnh tranh, nó được áp dụng ngày càng phổ biến trong kinh doanh hiện đại dưới tác động của sự phát triển công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hoá kinh tế. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng thể các yếu tố gắn trực tiếp với hàng hoá cùng với các điều kiện, công cụ và biện pháp cấu thành khả năng của doanh nghiệp trong việc ganh đua nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành khách hàng và đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Nói đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ là nói đến chất lượng sản phẩm do doanh nghiệp đó sản xuất ra, mà còn nói đến các biện pháp tiếp thị, quảng cáo. dịch vụ sau bán hàng, ., nhằm ngày càng mở rộng thị trường cho doanh nghiệp.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm cả khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó lẫn khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó cung cấp trên thị trường. Canh tranh của doanh nghiệp là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm tạo lợi thế cho mình và thu được nhiều lợi nhuận hơn, là sự tranh giành về lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường. Cạnh tranh là cuộc chạy đua khốc liệt mà doanh nghiệp muốn tồn tại thì không được lẩn tránh, phải trực tiếp đối đầu với thử thách, tìm ra những giải pháp để giành thắng lợi trong cuộc chiến đó. Nói cách khác là các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Lớp Cao học 16KT Lê Thị Hải Tuyến 14 Luận văn thạc sĩ kinh tế Người hướng dẫn: TS.2 Phân loại cạnh tranh. - Căn cứ vào các loại thị trường mà trong đó cạnh tranh diễn ra, có: + Cạnh tranh trên các thị trường đầu vào nhằm giành được các nguồn lực sản xuất có chất lượng tốt và chi phí thấp nhất. + Cạnh tranh trên thị trường sản phẩm nhằm chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần, giành khách hàng. - Căn cứ theo phương thức cạnh tranh, có: + Cạnh tranh bằng giá cả.

+ Cạnh tranh phi giá (cạnh tranh bằng chất lượng hàng hoá, thời gian giao hàng, dịch vụ khách hàng, cạnh tranh bằng các thủ đoạn kinh tế và phi kinh tế,. - Căn cứ vào các loại chủ thể tham gia cạnh tranh, có: + Cạnh tranh giữa người mua và người bán. + Cạnh tranh giữa những người bán với nhau. + Cạnh tranh giữa những người mua với nhau.

- Theo phạm vi cạnh tranh, có: + Cạnh tranh nội bộ ngành. + Cạnh tranh giữa các ngành. + Cạnh tranh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. + Cạnh tranh quốc tế.

- Theo cấp độ cạnh tranh, có: + Cạnh tranh giữa các quốc gia. + Cạnh tranh giữa các ngành. + Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. + Cạnh tranh sản phẩm.

Giữa các cấp độ cạnh tranh có mối quan hệ tương hỗ và suy cho cùng vẫn là cạnh tranh sản phẩm. Thông qua cung cấp sản phẩm mà các chủ thể doanh nghiệp, ngành, Nhà nước mong giành thắng lợi trong cạnh tranh, đạt được mục tiêu của mình. Lớp Cao học 16KT Lê Thị Hải Tuyến 15 Luận văn thạc sĩ kinh tế Người hướng dẫn: TS.3 Tác động của cạnh tranh đối với nền kinh tế. - Tác động tích cực: Cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá và là đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường.

Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh buộc các chủ thể kinh tế phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, nhạy bén, năng động, tổ chức quản lý hiệu quả,. để giành ưu thế so với đối thủ cạnh tranh và đạt được mục đích kinh doanh. Thực tế cho thấy, ở đâu và khi nào thiếu cạnh tranh hoặc biểu hiện độc quyền thì ở đó có sự trì trệ, bảo thủ, kém hiệu quả vì không có sự đào thải các lạc hậu, khuyến khích tiến bộ phát triển.

- Tác động tiêu cực: Cạnh tranh có thể dẫn đến tình trạng “cá lớn nuốt cá bé”, làm gia tăng các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh như làm hàng giả, trốn lậu thuế, ăn cắp bản quyền, mua chuộc, hối lộ, lừa đảo, tung tin thất thiệt phá hoại uy tín đối thủ, vi phạm pháp luật, làm xấu đi các quan hệ xã hội,. Cạnh tranh chạy theo lợi nhuận và lợi ích riêng sẽ làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, gây bất ổn định về kinh tế, gia tăng sự phân hoá giàu nghèo và những bất công trong xã hội,. Vấn đề đặt ra không phải là thủ tiêu cạnh tranh mà phải để cạnh tranh diễn ra trong điều kiện bình đẳng và minh bạch của các chủ thể cạnh tranh, phát huy những mặt tích cực và hạn chế đến mức tối thiểu những tác động tiêu cực của cạnh tranh. Đó là trách nhiệm của Nhà nước (thông qua luật pháp và các công cụ điều tiết vĩ mô) và của tất cả các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường.4 Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Khả năng và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp cần cung cấp cho thị trường những sản phẩm chất lượng cao, giá cả hợp lý và đáp ứng nhu cầu khách hàng.

Đó chính là những sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Các sản phẩm có khả năng cạnh tranh chỉ có thể được sản xuất và cung ứng bởi doanh nghiệp có khả năng cạnh Lớp Cao học 16KT Lê Thị Hải Tuyến 16 Luận văn thạc sĩ kinh tế Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thế Hòa tranh. Do vậy, doanh nghiệp muốn duy trì sự tồn tại và phát triển thì cần có khả năng cạnh tranh mạnh và bền vững.

Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt bao nhiêu, doanh nghiệp càng cần tạo dựng khả năng cạnh tranh mạnh và bền vững bấy nhiêu. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng (so với các đối thủ cạnh tranh) và đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế. Quan niệm này cho thấy nếu doanh nghiệp có khả năng duy trì và sáng tạo liên tục các lợi thế cạnh tranh của mình thì doanh nghiệp sẽ luôn đi trước các đối thủ và giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh để đạt mục đích duy trì và mở rộng thị trường, gia tăng lợi nhuận. Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh mạnh là doanh nghiệp có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển các lợi thế cạnh tranh bền vững.

Nếu lợi thế của doanh nghiệp dựa trên những yếu tố dễ sao chép và không được đổi mới, sáng tạo thì lợi thế đó sẽ nhanh chóng bị biến mất trước các áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Khi mất lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ không thể thu được tỷ suất lợi nhuận trên mức trung bình, mức mà các nhà đầu tư kỳ vọng thu được từ những khoản mục đầu tư với mức rủi ro tương đương. Quan niệm trên không mâu thuẫn với các cách tiếp cận khác và đồng thời làm rõ được nguyên nhân dẫn đến thành công của doanh nghiệp là do nó có khả năng duy trì và phát triển liên tục các lợi thế cạnh trạnh của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ