CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Lợi nhuận của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Ngay từ khi có hoạt động sản xuất, trao đổi, mua bán hàng hóa, lợi nhuận trong kinh doanh đã là một đề tài nghiên cứu tranh luận của nhiều trường phái, nhiều nhà lý luận kinh tế. Mỗi một nhà lý luận đều có cách diễn đạt riêng, có cách chứng minh khác nhau và C.Mac đã kế thừa những nguyên lý đúng đắn của những nhà lý luận tiền bối và đã rút ra những kết luận sau: - Lợi nhuận là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hóa nói chung, một nền kinh tế mà trong quan hệ sản xuất nó tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. - Trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế hàng hóa có sự chuyển hóa lợi nhuận và hình thành tỷ suất lợi nhuận. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự thay đổi của cấu tạo hữu cơ tư bản chủ nghĩa, việc tăng đầu tư tư bản cố định và sản xuất, việc thay thế lao động sống bằng hệ thống máy móc làm cho tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm đi.
- Lợi nhuận của sản xuất kinh doanh có quan hệ chặt chẽ với tiền công trả cho việc thuê lao động. Với tư cách là một yếu tố của chi phí sản xuất, tiền công có xu hướng vận động ngược chiều với lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi năng suất lao động tăng lên, lợi nhuận tăng nhưng tiền công lại giảm xuống. Ngày nay, lợi nhuận được định nghĩa một cách đơn giản là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác đem lại.
Nó được coi là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp.2 Phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp. Sinh viên: Lê Vi Linh 3 Lớp: TC2-K15 Trường ĐH Kinh tế Quốc dân GVHD: Th.s Trần Trọng Phong Ngày nay, hầu hết các doanh nghiệp đều thực hiện không chỉ đơn thuần một hoạt động bán hàng để thu lãi mà còn kết hợp nhiều phương thức kinh doanh khác nhằm mục đích thu được lợi nhuận càng cao càng tốt. Lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định bằng cách tính tổng các lợi nhuận của tất cả các hoạt động, dịch vụ phát sinh trong kỳ. Thông thường người ta chia ra làm 3 nhóm lợi nhuận chủ yếu sau: * Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ.
Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ là lợi nhuận do tiêu thụ các sản phẩm lao vụ, dịch vụ của hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động kinh doanh trừ đi giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ. Bộ phận lợi nhuận này được xác định bằng công thức sau: Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh = Doanh thu thuần - [Trị giá vốn hàng bán + Chi phí bán hàng + Chi phí quản lý doanh nghiệp] Hoặc: Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh = Doanh thu thuần - Giá thành toàn bộ sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ trong kỳ. Trong đó: - Doanh thu thuần là toàn bộ giá trị của sản phẩm hàng hóa cung ứng dịch vụ trên thị trường được thực hiện trong một thời kỳ nhất định sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu như: giảm giá hàng bán, hàng bị trả lại (nếu có chứng từ hợp lệ), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp (nếu có). + Giảm giá hàng bán: Là số tiền mà doanh nghiệp chấp nhận giảm cho người mua vì những nguyên nhân thuộc về doanh nghiệp như hàng sai quy cách, chất lượng kém hoặc số tiền thưởng cho người mua do mua một lần với số lượng lớn hoặc trong đợt khuyến mại của doanh nghiệp.
Sinh viên: Lê Vi Linh 4 Lớp: TC2-K15 Trường ĐH Kinh tế Quốc dân GVHD: Th.s Trần Trọng Phong + Hàng bán bị trả lại: Là doanh thu của số hàng tiêu thụ bị khách hàng trả lại, do lỗi thuộc về doanh nghiệp như vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng, hàng sai quy cách. + Các loại thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu là nghĩa vụ của doanh nghiệp với Nhà nước. - Trị giá vốn hàng bán là khái niệm để chỉ giá mua thực tế của hàng đã tiêu thụ trong các doanh nghiệp thương mại. - Chi phí bán hàng là toàn bộ các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ như tiền lương, các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên tiếp thị, bao bì đóng gói, vận chuyển, bảo quản, khấu hao tài sản cố định, chi phí vật liệu tiêu dùng để đóng gói, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác như chi phí quảng cáo, bảo hành,.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí phục vụ cho việc điều hành và quản lý chung cho các bộ phận trong toàn doanh nghiệp trong kỳ sản xuất như tiền lương, các khoản trích theo lương cho cán bộ công nhân viên, chi phí công cụ lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho bộ máy quản lý, chi phí khác như đồ dùng văn phòng,. Đây là bộ phận doanh thu chủ yếu và nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh thu. Bộ phận này có vai trò quan trọng và quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp. * Lợi nhuận hoạt động tài chính Lợi nhuận từ họat động tài chính là phần chênh lệch giữa các khoản thu và chi về hoạt động tài chính, được xác định theo công thức: Lợi nhuận hoạt động tài chính = Thu nhập hoạt động tài chính - Thuế (nếu có) - Chi phí hoạt động tài chính.
Lợi nhuận hoạt động tài chính gồm: + Lợi nhuận từ hoạt động liên doanh, liên kết, Sinh viên: Lê Vi Linh 5 Lớp: TC2-K15 Trường ĐH Kinh tế Quốc dân GVHD: Th.s Trần Trọng Phong + Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán ngắn và dài hạn, + Lợi nhuận từ hoạt động cho thuê tài sản, + Lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư khác, + Lợi nhuận từ chênh lệch lãi tiền gửi ngân hàng và lãi tiền vay ngân hàng, + Lợi nhuận từ hoạt động cho vay vốn. + Lợi nhuận từ hoạt động bán ngoại tệ. - Thu nhập hoạt động tài chính là những khoản thu và lãi liên quan đến hoạt động về vốn. - Chi phí hoạt động tài chính là khoản chi phí và các hoạt động lỗ liên quan đến hoạt động về vốn.
* Lợi nhuận khác. Lợi nhuận khác là những khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp không biết trước được hoặc biết được nhưng thường ít xảy ra. Lợi nhuận khác = Thu nhập khác - Thuế (nếu có) - Chi phí khác - Thu nhập khác là các khoản thu có được từ các hoạt động: thanh lý tài sản, nợ khó đòi đã xử lý nhưng nay thu lại được, khoản vi phạm hợp đồng, khoản thu nhập bị bỏ sót hoặc lãng quên từ năm trước. - Chi phí khác gồm: chi phí liên quan đến việc bán thanh lý tài sản cố định, tiền phạt vi phạm hợp đồng kinh tế, các khoản chi khác không có trong bảng biểu kế toán.
Như vậy tổng lợi nhuận của doanh nghiệp được tính như sau: - Lợi nhuận trước thuế TNDN = Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ + Lợi nhuận hoạt động tài chính + Lợi nhuận khác. - Lợi nhuận sau thuế TNDN = Lợi nhuận trước thuế TNDN - Thuế TNDN trong kỳ. Sinh viên: Lê Vi Linh 6 Lớp: TC2-K15 Trường ĐH Kinh tế Quốc dân GVHD: Th.s Trần Trọng Phong Tỷ trọng của mỗi bộ phận lợi nhuận trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp có sự khác nhau giữa các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhauvà thuộc các môi trường kinh tế khác nhau. Việc xem xét kết cấu lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng trong việc cho ta thấy được các khoản mục tạo nên lợi nhuận và tỷ trọng của từng khoản mục trong tổng lợi nhuận, từ đó xem xét, đánh giá kết quả của từng hoạt động, tìm ra các mặt tích cực cũng như tồn tại trong từng hoạt động để đề ra các phương pháp thích hợp để nhằm nâng cao lợi nhuận doanh nghiệp.3 Vai trò của lợi nhuận.
- Là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Lợi nhuận chính là yếu tố trực tiếp phản ánh kết quả đạt được sau một năm kế toán của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại được trong thị trường khi và chỉ khi hoạt động của nó phải sản sinh ra một lượng tiền nhất định đủ để bù đắp chi phí đã bỏ ra ban đầu và chi trả cho những người lao động. Không có lợi nhuận giống như việc "bỏ đói", không thể tiếp tục sản xuất được. Thông qua lợi nhuận đạt được trong năm, các nhà quản trị có thể so sánh kết quả đạt được với năm cũ và với các doanh nghiệp khác có cùng ngành nghề và quy mô sản xuất đồng thời đưa ra định hướng phát triển cho năm tới.
Những nhà quản lý thì có thể đánh giá được khả năng hoạt động của từng bộ phận trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ngược lại, nếu một doanh nghiệp có lợi nhuận ở mức âm, doanh thu thu về không đủ để bù đắp chi phí bỏ ra không những sẽ làm cho giá trị bản thân doanh nghiệp bị giảm sút mà còn làm cho các chủ sở hữu bị mất vốn, các nhà đầu tư sẽ mất lòng tin với doanh nghiệp. Hơn nữa, lợi nhuận còn tham gia vào quá trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện qua việc hằng năm doanh nghiệp để lại một khoản lợi nhuận không chia để tái đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Nó Sinh viên: Lê Vi Linh 7 Lớp: TC2-K15 Trường ĐH Kinh tế Quốc dân GVHD: Th.s Trần Trọng Phong có thể được dụng để mở rộng quy mô về chiều rộng như mở rộng thị trường, tăng cường thiết bị, máy móc, nhà xưởng để sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn và kinh doanh nhiều mặt hàng hơn hoặc có thể đầu tư vào chiều sâu như đầu tư cho công tác nghiên cứu, học tập của cán bộ để việc sản xuất được trôi chảy hơn, kinh doanh có uy tín chất lượng hơn, tập trung chủ yếu vào một loại mặt hàng sao cho nó có những ưu điểm thật vượt trội so với các doanh nghiệp khác.
Số tiền này chính là số vốn dài hạn mà doanh nghiệp tích lũy hàng năm.