Luận văn thạc sĩ: Đo đạc thực nghiệm khoang hơi quanh vật thể chuyển động trong nước

Luận văn Thạc sĩ: Nghiên cứu thực nghiệm quá trình hình thành khoang hơi quanh vật thể chuyển động trong nước. Chuyên ngành Kỹ thuật Cơ khí và Cơ kỹ thuật.

Chuyên ngành

Cơ kỹ thuật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

72
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

Danh mục ký hiệu và chữ viết tắt

Danh sách các bảng

Danh sách các hình

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DÒNG CHẢY CÓ TẠO BỌT

1.1. Giới thiệu

1.2. Hiện tượng tạo bọt hơi (cavitation) và hiện tượng tạo khoang hơi (supercavitation)

2. CHƯƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP ĐO ĐẠC THỰC NGHIỆM KHOANG HƠI

2.1. Các tham số đồng dạng sử dụng

2.2. Các phương pháp thực nghiệm nghiên cứu khoang hơi

2.3. Đo đạc khoang hơi sử dụng phương pháp quang học

2.4. Phân tích ảnh sử dụng phần mềm ImageJ

3. CHƯƠNG 3: BƢỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM KHOANG HƠI

3.1. Xây dựng mô hình vật lý và thử nghiệm

3.2. Tiến hành thí nghiệm

3.3. Một số kết quả thí nghiệm

3.4. Hiệu chỉnh mô hình

3.5. Ảnh hưởng của một số tham số

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC: Mã macros thực hiện trong phần mềm ImageJ

Tóm tắt

I. Tổng quan Luận văn khoang hơi và đo đạc thực nghiệm 50 60 ký tự

Luận văn này tập trung vào nghiên cứu khoang hơi hình thành quanh vật thể chuyển động trong nước thông qua phương pháp đo đạc thực nghiệm. Hiện tượng khoang hơi có vai trò quan trọng trong việc giảm lực cản và tăng tốc độ của các thiết bị di chuyển dưới nước, như tàu ngầm và ngư lôi. Nghiên cứu này không chỉ kiểm chứng lý thuyết mà còn cung cấp số liệu chính xác cho các mô phỏng. Việc đo đạc thực nghiệm khoang hơi gặp nhiều khó khăn do đòi hỏi điều kiện và trang thiết bị đặc biệt. Do đó, việc xây dựng một hệ thống thí nghiệm trong phòng thí nghiệm là cần thiết. Mục đích của luận văn là xây dựng một hệ thống thí nghiệm tạo ra khoang hơi xung quanh vật thể chuyển động trong chất lỏng, đo đạc thực nghiệm các thông số như kích thước hình học của khoang hơi và quãng đường đi được của vật, đánh giá ảnh hưởng của hình dạng vật thể lên khoang hơi và quỹ đạo chuyển động. Luận văn này cũng cung cấp số liệu cho mô phỏng số. Các nội dung nghiên cứu bao gồm: tổng quan lý thuyết về khoang hơi, nghiên cứu các phương pháp thực nghiệm đo đạc khoang hơi đã được sử dụng, cải tiến hệ thống thí nghiệm để tạo ra khoang hơi trong môi trường nước, tiến hành thí nghiệm đo đạc khoang hơi và quan sát quỹ đạo chuyển động của vật, so sánh kết quả thực nghiệm với các kết quả đã công bố.

1.1. Giới thiệu về hiện tượng tạo bọt và khoang hơi

Hiện tượng tạo bọt hơi (cavitation) là sự xuất hiện các bọt hơi bên trong chất lỏng. Quá trình này xảy ra khi áp suất của chất lỏng giảm xuống dưới áp suất hơi bão hòa. Hiện tượng tạo bọt hơi tương tự như sự sôi của nước, nhưng khác về cơ chế hình thành. Trong khi sôi, bong bóng hình thành do tăng nhiệt độ, thì trong tạo bọt hơi, bong bóng hình thành do giảm áp suất. Dòng bọt hơi thường được mô tả bởi số xâm thực (cavitation number). Khoang hơi (supercavitation) xuất hiện khi mảng bọt lớn lên bao trọn lấy vật. Mục đích là đạt được khoang hơi để giảm lực cản nhớt đối với thiết bị hoạt động dưới nước với tốc độ cao. Khoang hơi có thể xuất hiện tự nhiên khi tốc độ của vật đủ lớn làm hóa hơi nước xung quanh vật, hoặc nhân tạo khi cung cấp liên tục khí xung quanh vật ở áp suất gần với áp suất của môi trường xung quanh. Theo [26], khi khoang hơi chiếm một phần cơ thể vật thì việc điều khiển hướng, vận tốc cũng như quỹ đạo của vật phụ thuộc vào hình dạng và kích thước của khoang hơi.

1.2. Vai trò của áp suất hơi trong hình thành khoang hơi

Áp suất hơi là yếu tố quan trọng trong việc hình thành khoang hơi. Biểu đồ pha chỉ ra rằng đường cong phân tách vùng chất lỏng và vùng hơi, biểu diễn sự chuyển đổi pha khả nghịch ở trạng thái tĩnh, tức là sự bay hơi hay ngưng tụ của chất lỏng ở áp suất hơi là hàm của nhiệt độ T. Sự tạo bọt trong chất lỏng có thể được thực hiện bằng cách giảm áp suất ở nhiệt độ không đổi trong dòng chảy thực. Trong hầu hết các trường hợp, chỉ cần một lượng nhiệt thay đổi nhỏ là đủ cho sự hình thành một thể tích bọt hơi. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp việc truyền nhiệt là cần thiết cho sự bay hơi, giống như sự chuyển pha xảy ra ở nhiệt độ T' thấp hơn nhiệt độ chất lỏng môi trường T. [9] đã chỉ ra rằng sự khác biệt giữa áp suất hơi và áp suất thực tế tại thời điểm bắt đầu của sự tạo bọt được gọi là trì hoãn tĩnh.

II. Phân tích thách thức và vấn đề đo đạc thực nghiệm 50 60 ký tự

Việc đo đạc thực nghiệm khoang hơi gặp nhiều thách thức do tính chất phức tạp của dòng chảy, bao gồm sự rối, tính ba chiều và tính không ổn định. Các yếu tố như áp suất, gradient áp suất, mặt phân cách lỏng-hơi và tác dụng nhiệt đều ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của khoang hơi. Khó khăn chính xuất hiện đối với các phép đo đạc về áp suất. Đầu tiên, đầu dò áp suất phải gắn vào tường để tránh các xáo trộn dòng chảy, không nhất thiết phải cung cấp các giá trị áp suất bên trong dòng trượt rối. Khó khăn thứ hai là kỹ thuật đo. [9] đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng các đầu dò có độ phân giải không gian rất nhỏ và thời gian tăng rất ngắn để nghiên cứu sự phá vỡ các bong bóng có kích thước nhỏ. Dòng bọt khí giống như dòng chất lỏng hai pha khí-lỏng đặc trưng bởi các mặt tương tác. Dòng chảy hai pha chứa bọt khí thường không thay đổi về mật độ trung bình (ngoại trừ trong trường hợp của sóng xung kích). Do bản chất không ngưng tụ của khí trao đổi là ổn định trong toàn miền dòng chảy.

2.1. Ảnh hưởng của áp suất và gradient áp suất

Áp suất và gradient áp suất đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của khoang hơi. Trong dòng chảy không tạo bọt, mức áp suất tham chiếu không ảnh hưởng đến động lực học dòng chảy mà chỉ cần quan tâm là gradient áp suất. Còn đối với dòng có khoang hơi chủ yếu phụ thuộc vào mức áp suất tham chiếu, vì khi hạ áp suất tham chiếu thì bọt hơi xuất hiện và phát triển. Để dự đoán thời điểm khởi đầu của sự tạo bọt bằng lý thuyết hay bằng phương pháp số, ta cần so sánh giá trị tính toán áp suất trong miền tới hạn của dòng chảy với một ngưỡng giá trị nào đó, thường là áp suất hơi. [9] đã chỉ ra rằng các phương pháp tính toán phụ thuộc vào cấu hình dòng chảy, từ các trường hợp đơn giản như dòng chảy ổn định một chiều trong ống đến các trường hợp phức tạp như dòng chảy trượt rối.

2.2. Vai trò của mặt phân cách lỏng hơi và tác dụng nhiệt

Dòng bọt khí đặc trưng bởi các mặt tương tác giữa pha lỏng và pha hơi. Các mặt này phản ứng mạnh mẽ với các xáo trộn bên ngoài, ví dụ như sự tăng áp suất. Trong dòng chảy có bọt, các mặt tương tác của các đối tượng trên các cạnh có áp suất không đổi bằng áp suất hơi. Do đó, chúng không thể duy trì một áp suất ngoài tăng hoặc giảm một cách nhanh chóng cả về hình dạng lẫn kích thước. Chúng cực kỳ mất ổn định. Ngoài ra, biến đổi nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sự hình thành khoang hơi. Sự tăng về nhiệt độ chất lỏng dẫn đến bọt gia tăng. Cần hạ áp suất xuống để đạt được các đường thay đổi pha, do sự gia tăng áp suất của pha hơi. Sự tạo bọt khí đòi hỏi nhiệt truyền từ lỏng sang bề mặt chất lỏng hoặc hơi, độ trễ nhiệt có xu hướng tăng.

2.3. Các tham số liên quan đến dòng tạo bọt khí

Các tham số chính ảnh hưởng đến giai đoạn hình thành bọt hơi (cavity) cho đến khi phát triển thành khoang hơi là các hệ số phụ thuộc vào áp suất, mật độ chất lỏng và vận tốc của dòng chảy. Đặc trưng nhất là số xâm thực, được xác định theo công thức (1.2) và hệ số áp lực tính theo công thức (1.3). Trong đó, số xâm thực (số cavitation) dùng để xác định áp lực dòng được đóng bởi hơi. Các tham số này là số Reynolds, Số Weber và Số Froude.

III. Phương pháp Đo đạc thực nghiệm khoang hơi 50 60 ký tự

Luận văn lựa chọn phương pháp thực nghiệm để nghiên cứu và đo đạc các thông số liên quan tới khoang hơi của vật chuyển động trong nước. Để tiến hành được trong phòng thí nghiệm, cần đồng dạng mô hình thí nghiệm với mô hình thực tế dựa trên các tham số như số xâm thực và hệ số áp lực. Các phương pháp thí nghiệm tạo khoang hơi trước đây đã sử dụng như ống thủy động và phương pháp thuật phóng ngoài. Đề tài sử dụng phương pháp quang học để đo đạc khoang hơi bằng thuật phóng ngoài, kết hợp với phần mềm ImageJ để phân tích ảnh thu được. Cần sử dụng máy quay tốc độ cao để ghi lại hình ảnh vật đang chuyển động có tạo khoang hơi trong nước. Chất lỏng được chiếu sáng bằng đèn flash sao cho nhìn thấy khoang hơi ở trạng thái rõ nhất. Kỹ thuật tiến hành thí nghiệm độ phân giải về không gian và thời gian là mấu chốt.

3.1. So sánh phương pháp ống thủy động và thuật phóng ngoài

Mô hình nghiên cứu khoang hơi bằng ống thủy động là mô hình cổ điển nhất, có lợi thế là chủ động điều chỉnh các tham số như áp suất, vận tốc nhưng khó thực hiện với quy mô nhỏ như phòng thí nghiệm. Kinh phí khá tốn kém, thiết kế phức tạp và khó tạo được vận tốc lớn. Hơn nữa, ống thủy động chỉ nghiên cứu vật ở trạng thái đứng yên không quan sát được quỹ đạo chuyển động của vật. Mặt khác, mô hình phóng vật có khả năng làm với mô hình nhỏ, nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm. Có khả năng quan sát cả quỹ đạo chuyển động của vật, từ đó điều chỉnh hướng chuyển động của thiết bị theo ý muốn. Khi không xét đến lực trọng trường tác dụng lên thiết bị.

3.2. Sử dụng phương pháp quang học và phần mềm ImageJ

Đo đạc khoang hơi sử dụng phương pháp quang học là phương pháp quan sát trực quan. Được thực hiện bằng cách dùng máy quay tốc độ cao để ghi lại hình ảnh vật đang chuyển động có tạo khoang hơi trong nước. Do tính phức tạp của dòng bọt khí chủ yếu ba chiều, mất ổn định, hai pha rối, nên máy quay phải đạt các tiêu chuẩn về tốc độ khung hình (tốc độ màn trập) bắt dính được chuyển động của vật. Các đoạn phim ghi lại được tách thành từng ảnh bằng phần mềm Free Video to JPG converter. Từ các ảnh riêng biệt, sử dụng công cụ phân tích ảnh ImageJ để xác định vận tốc trung bình, kích thước khoang hơi và quỹ đạo chuyển động của vật.

IV. Kết quả Nghiên cứu thực nghiệm khoang hơi 50 60 ký tự

Hệ thống thí nghiệm tạo khoang hơi đã được xây dựng, bao gồm bộ phận cung cấp vận tốc đẩy vật vào bể chứa chất lỏng, và camera tốc độ cao ghi lại hình ảnh. Thí nghiệm được thực hiện với chất lỏng là nước, vật được bắn ra ở độ sâu 12 cm nước, trùng với phương ngang coi như góc lệch bằng 0. Các hình ảnh thu được về quỹ đạo chuyển động của các vật thể và hình ảnh khoang hơi quan sát được. Hệ thống thí nghiệm được điều chỉnh sao cho phù hợp với nghiên cứu hơn. Để không tạo ra góc lệch trong quá trình ngắm bắn, súng được gắn cố định có chiều dài 90 cm, bình đốt được chế tạo lại dạng hình trụ tròn, với kích thước là chiều dài 8.5 cm, đường kính 8 cm, nhằm tạo ra vận tốc ổn định và cao hơn.

4.1. Mô tả hệ thống thí nghiệm

Hệ thống thí nghiệm tạo khoang hơi đã được xây dựng, mô hình như trong Hình 3.1. Bộ phận cung cấp vận tốc (1) đẩy vật từ ngoài vào trong bể chứa chất lỏng (2), hình ảnh vật chuyển động trong chất lỏng được ghi lại bằng một camera tốc độ cao (3). Hệ thống đo đạc gồm các bộ phận chính sau: Bộ phận phóng ngoài – Súng hơi, Bể chứa chất lỏng và Các vật tiến hành thí nghiệm.

4.2. Hình ảnh và kết quả quan sát khoang hơi

Các hình ảnh thu được về quỹ đạo chuyển động của các vật thể như trong Hình 3.11. Đây là một trong số các trường hợp thí nghiệm của 3 vật với dạng đầu khác nhau có cùng độ dài 40 mm, ở nhiệt độ t (s). Hình ảnh khoang hơi của các vật có cùng độ dài 40 mm thể hiện trong Hình 3.12. Với điều kiện thí nghiệm: áp suất môi trường , nhiệt độ nước là .

V. Hiệu chỉnh mô hình thực nghiệm đo đạc chính xác 50 60 ký tự

Để thực hiện các phép đo một cách chính xác, quy trình cần được thiết lập lại như nhau giữa các lần bắn. Với các công cụ hỗ trợ, việc điều chỉnh sẽ cho phép có thể đưa ra kết quả chính xác nhất.

5.1. Hiệu chỉnh quy trình nạp nhiên liệu đốt

Sau khi tiến hành thí nghiệm, hệ thống thí nghiệm được điều chỉnh sao cho phù hợp với nghiên cứu hơn. Để không tạo ra góc lệch trong quá trình ngắm bắn, súng được gắn cố định có chiều dài 90 cm, bình đốt được chế tạo lại dạng hình trụ tròn, với kích thước là chiều dài 8.5 cm, đường kính 8 cm, nhằm tạo ra vận tốc ổn định và cao hơn. Quy trình nạp nhiên liệu cũng được thiết lập như nhau giữa các lần bắn.

5.2. Các vật mẫu dùng hiệu chỉnh thí nghiệm

Nghiên cứu sử dụng 3 loại vật mẫu dùng hiệu chỉnh thí nghiệm (Hình 3.14), thông số như Bảng 3.3 Điều kiện thí nghiệm hiệu chỉnh quy trình nạp nhiên liệu 50

VI. Kết luận và hướng phát triển luận văn khoang hơi 50 60 ký tự

Luận văn đã trình bày các bước ban đầu trong việc nghiên cứu khoang hơi bằng phương pháp đo đạc thực nghiệm. Hệ thống thí nghiệm đã được xây dựng và thử nghiệm thành công, cung cấp các dữ liệu ban đầu về hình dạng, kích thước và quỹ đạo chuyển động của vật trong môi trường nước. Các kết quả này có thể được sử dụng để kiểm chứng lý thuyết và cung cấp số liệu cho mô phỏng số. Hướng phát triển của luận văn có thể tập trung vào việc cải tiến hệ thống thí nghiệm, tăng độ chính xác của các phép đo đạc và nghiên cứu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau lên sự hình thành và phát triển của khoang hơi.

6.1. Đánh giá và kiến nghị

Kết quả luận văn cần được so sánh với các nghiên cứu trước đây để đánh giá tính chính xác và độ tin cậy. Cần nghiên cứu thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến sai số trong quá trình đo đạc. Kiến nghị các hướng cải tiến hệ thống thí nghiệm và quy trình đo đạc để đạt được kết quả chính xác hơn.

6.2. Tương lai của nghiên cứu khoang hơi

Nghiên cứu về khoang hơi có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, như thiết kế tàu ngầm, ngư lôi, và các thiết bị di chuyển dưới nước khác. Cần tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về các đặc tính của khoang hơi và phát triển các công nghệ ứng dụng hiệu quả hơn.

24/09/2025
Luận văn thạc sĩ đo đạc thực nghiệm quá trình hình thành khoang hơi quanh vật thể chuyển động trong nước luận văn ths kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật 60 52 01 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan về dòng chảy có tạo bọt hơi Chương 2. Phương pháp đo đạc thực nghiệm khoang hơi Chương 3. Bước đầu nghiên cứu thực nghiệm khoang hơi Các kết quả chính được tóm tắt trong phần Kết luận và kiến nghị.

Các công trình đã công bố liên quan đến luận văn. Phần Phụ lục là mã macro xây dựng trong phần mềm ImageJ để vẽ hình dạng khoang hơi và thu nhận các kích thước khoang hơi. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ DÒNG CHẢY CÓ TẠO BỌT 1.1 Giới thiệu Trong thực tế chúng ta thường bắt gặp các thiết bị chuyển động dưới nước như tàu ngầm, ngư lôi, đạn bắn trong nước, v. Các thiết bị này thường bị giới hạn bởi tốc độ, nguyên nhân chính là do lực cản ma sát trên toàn bề mặt của chúng.

Khi một vật chuyển động trong chất lỏng sẽ xuất hiện một lớp chất lỏng bám trên bề mặt vật. Sự tương tác này gây ra lực cản trên toàn bề mặt của vật thường được gọi là ma sát cản bề mặt. Lực cản trong nước gồm hai thành phần cản ma sát và cản áp lực. Trong thực tế, nước sinh ra lực cản gấp 1000 lần không khí.

Trong các ứng dụng thì tốc độ càng cao là điều mà chúng ta mong muốn. Tuy nhiên tốc độ cao không có được chỉ bằng cách tinh giản vật thể hoặc cải thiện các động cơ đẩy. Những giải pháp này cung cấp một số cải tiến về tốc độ nhưng không làm giảm đáng kể ma sát cản bề mặt. Một sự cải tiến vượt bậc về tốc độ và giảm đáng kể ma sát cản bề mặt là thông qua supercavitation (hiện tượng tạo khoang hơi).

Supercavity (khoang hơi) xuất hiện khi một vật chuyển động trong chất lỏng với vận tốc đủ lớn, áp suất chất lỏng giảm xuống dưới áp suất hơi bão hòa và tại đó mật độ chất lỏng rất thấp, ở dạng giống như hơi. Nói cách khác, nếu áp lực không đủ lớn để liên kết giữa các phân tử lỏng với nhau, chúng sẽ bị phân tách và hóa hơi. Khoang hơi có thể bao trọn toàn bộ vật [26]. Trong dòng chảy có khoang hơi, chất lỏng không tiếp xúc trực tiếp với bề mặt của vật, đây là nguyên nhân làm giảm đáng kể ma sát cản bề mặt.

Vì thế, mà khoang hơi được khai thác triệt để nhằm duy trì được tốc độ cao và lực cản thấp nhất. Một ví dụ về khoang hơi xung quanh một vật chuyển động trong nước như được chỉ ra trong Hình 1.1 Khoang hơi quanh một ngư lôi chuyển động trong nước Hiện tượng tạo khoang hơi là một hiện tượng rất hữu ích cho việc giảm cản nhớt đối với các thiết bị chuyển động dưới nước. Khi khoang hơi chiếm một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 phần cơ thể vật thì việc điều khiển hướng, vận tốc cũng như quỹ đạo của vật phụ thuộc vào hình dạng và kích thước của khoang hơi. Những đặc trưng của dòng có tạo khoang hơi sẽ được trình bày cụ thể trong Chương này.

Phần đầu giới thiệu về sự tạo bọt (cavitation) và sự hình thành khoang hơi (supercavitation), các khái niệm và định nghĩa về hiện tượng tạo bọt hơi, phân loại các dạng bọt hơi. Phần hai giới thiệu về sự tạo bọt hơi trong chất lỏng thực gồm: các chế độ tạo bọt, áp suất hơi, các đặc trưng khi có khoang hơi của dòng tạo bọt, các tác động về nhiệt độ và các tham số liên quan đến quá trình hình thành khoang hơi. Phần ba điểm lại các nghiên cứu trước đây, đặc biệt là các nghiên cứu bằng thực nghiệm. Cuối cùng đi đến kết luận về hướng nghiên cứu của luận văn.2 Hiện tƣợng tạo bọt hơi (cavitation) và hiện tƣợng tạo khoang hơi (supercavitation) Hiện tượng tạo bọt hơi (tạm dịch từ: cavitation) nghĩa là xuất hiện các bọt hơi bên trong một môi trường chất lỏng ban đầu đồng nhất [9].

Hiện tượng này, xảy ra phụ thuộc vào các điều kiện khác nhau của dòng chảy. Một cách nói khác khi một chất lỏng ở nhiệt độ không đổi, áp suất của chất lỏng giảm xuống dưới áp suất hơi bão hòa. Quá trình phá vỡ một chất lỏng bằng việc giảm áp suất ở nhiệt độ không đổi như vậy được gọi là sự tạo bọt hơi. Hiện tượng này tương tự như hiện tượng sôi của nước chỉ khác nhau về cơ chế hình thành, các bong bóng khi đun sôi là do tăng nhiệt độ môi trường còn của tạo bọt hơi là làm giảm áp suất.

Hơn nữa, các bong bóng được tạo ra trong quá trình đun sôi là ổn định và chúng thoát lên bề mặt hoặc giải phóng nhiệt cho chất lỏng xung quanh. Còn các bong bóng hình thành trong quá trình tạo bọt hơi, chúng phụ thuộc vào áp suất thấp của các chất lỏng xung quanh để tồn tại. Khi áp lực của chất lỏng xung quanh tăng đến một mức độ nào đó thì các bọt này vỡ đột ngột và biến mất. Dòng bọt hơi thường được mô tả bởi số xâm thực.

Số xâm thực là đại lượng đặc trưng cho kích thước bọt được trình bày trong mục 1. Các bọt hơi được quan sát thấy trong các hệ thống đẩy và các động cơ điện như máy bơm, vòi phun, trong ống hẹp, xung quanh các vật chuyển động như cánh quạt của tàu ngầm, chân vịt, v. Ngay cả trong chất lỏng tĩnh, khi một trường áp suất dao động đặt lên một bề mặt chất lỏng, các bọt bong bóng có thể xuất hiện nếu biên độ dao động của áp suất là đủ lớn [9]. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Dựa vào điều kiện và cấu trúc hình học của dòng chảy ta có thể quan sát được các kiểu tạo bọt khác nhau, mỗi kiểu lại có đặc trưng riêng.

Có 5 kiểu chính được mô tả tóm tắt dưới đây [28]: - Các bọt di chuyển (traveling cavitation) gồm các bọt riêng rẽ hình thành và di chuyển trong chất lỏng, chúng được quan sát thấy trên các tàu cánh ngầm. Các bọt di chuyển này xuất hiện thành một mảng.2a minh họa các bọt di chuyển trên một tàu cánh ngầm. Sự trào ngược của các đám mây bọt theo một chu kỳ là cơ chế hình thành nên các đám mây bọt, hình minh họa cho trường hợp này Hình 1. - Các mảng bọt (sheet cavitation) hay các rãnh bọt tĩnh và ổn định.

Hiện tượng này được chỉ ra trong Hình 1. Sự tương tác giữa pha lỏng và pha hơi có thể ở dạng phẳng, trong suốt hoặc có hình dạng sôi tại bề mặt. Hơi chất lỏng trở thành các gợn sóng và vỡ ra tại vùng đóng kín của các bọt khí. Tại vùng hạ lưu nơi tồn tại các xoáy lớn chiếm ưu thế bởi các cụm bọt.

- Hiện tượng tạo khoang hơi (Supercavitation) xuất hiện khi mảng bọt lớn lên bao trọn lấy vật. Người ta mong muốn đạt được khoang hơi để làm giảm lực cản nhớt đối với các thiết bị hoạt động ở dưới nước với tốc độ cao. Một kiểu giảm lực nhớt khác như tăng lực nâng bằng cách tạo ra khoang khí tại mặt trên ở cùng một áp suất.2d là khoang hơi của cánh ngầm. - Các xoáy bọt (vortex cavitation) xuất hiện tại các đỉnh của các cánh quay như Hình 1.

Các bọt này hình thành tại tâm của các xoáy trong vùng trượt cao. Dạng bọt này không bị hạn chế bởi các cánh quay. Nó có thể xảy ra tại vùng phân tách ở bất kỳ vị trí nào của vật. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các hình thái bọt hơi Khoang hơi xuất hiện bằng hai cách: 1.

Khi tốc độ của vật đủ lớn làm hóa hơi nước xung quanh vật gọi là khoang hơi tự nhiên. Người ta cung cấp liên tục khí xung quanh vật ở áp suất gần với áp suất của môi trường xung quanh gọi là khoang hơi nhân tạo. Ba giai đoạn hình thành và phát triển của một khoang hơi: 1. Khoang hơi bắt đầu xuất hiện tại mũi tiếp xúc giữa vật và chất lỏng.

Khoang hơi phát triển bao trọn một phần vật, vận tốc của vật tiếp tục tăng lên. Khoang hơi lớn nhất bao trọn vật thể và giữ được ổn định. Khi vật được bao trọn bởi một khoang hơi như vậy chỉ mũi của nó là tiếp xúc với nước ở dạng lỏng, dẫn đến ma sát bề mặt giảm. Khi khoang hơi xuất hiện, vật đạt được tốc độ cao hơn rất nhiều so với vật khi chưa có khoang hơi với cùng một lực đẩy.

Do khi khoang hơi xuất hiện thì vật như đang chuyển động trong môi trường không khí. Và khi vật giảm tốc độ thì kích thước khoang giảm và dần biến mất. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Áp suất hơi Khái niệm về áp suất hơi được xem là đáng tin cậy nhất là quan điểm nhiệt động lực học cổ điển. Trong biểu đồ pha cho ở dưới (Hình 1.3) chỉ ra rằng đường cong xuất phát từ điểm phân ba tới điểm tới hạn C phân tách vùng chất lỏng và vùng hơi.

Qua đường cong đó biểu diễn sự chuyển đổi pha khả nghịch ở trạng thái tĩnh (hay trạng thái cân bằng), tức là sự bay hơi hay ngưng tụ của chất lỏng ở áp suất hơi là hàm của nhiệt độ T. Vì thế, sự tạo bọt trong chất lỏng có thể được thực hiện bằng cách giảm áp suất ở nhiệt độ không đổi trong dòng chảy thực. Từ đó sự tạo bọt giống như sự đun sôi, ngoại trừ cơ chế hình thành không phải là thay đổi nhiệt độ mà là thay đổi áp suất, thường được điều khiển bằng các dòng chảy động lực học [9]. Trong hầu hết các trường hợp (đặc biệt là với nước lạnh), chỉ cần một lượng nhiệt thay đổi nhỏ là đủ cho sự hình thành một thể tích bọt hơi (nguồn nhiệt cho sự bay hơi), do đó chỉ cần làm thay đổi nhiệt độ một lượng nhỏ là đủ.

Đường trong sơ đồ pha trên thực tế là đường đẳng nhiệt (xem Hình 1.3 Biểu đồ pha lỏng - hơi của nước Tuy nhiên, trong một vài trường hợp việc truyền nhiệt là cần thiết cho sự bay hơi, giống như sự chuyển pha xảy ra ở nhiệt độ T' thấp hơn nhiệt độ chất lỏng môi trường T. Sự chênh lệch nhiệt độ T-T' được gọi là nhiệt trễ trong sự tạo bọt. Độ chênh lệch nhiệt sẽ càng lớn nếu nhiệt độ môi trường càng gần với nhiệt độ tới hạn của chất lỏng. Từ những quan niệm lý thuyết thuần túy dẫn đến các giai đoạn phân biệt của sự tạo bọt: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 - Sự phá hủy hay tạo khoảng trống, - Lấp khoảng trống bởi hơi, - Trạng thái hơi bão hòa.

Thực tế cả ba giai đoạn này xảy ra đồng ở giai đoạn thứ 2. Đường cong (T) không phải là ranh giới tuyệt đối giữa trạng thái lỏng và hơi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ