Chương 1: Tổng quan về hệ thống quản lý, giám sát phương tiện thủy nội địa Trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu tổng quan về công tác quản lý, giám sát phương tiện thủy nội địa, ứng dụng công nghệ IoT trong quản lý, giám sát phương tiện cũng như hoạt động của một số hệ thống IoT trong thực tế. Đây là cơ sở cần thiết để chúng ta có thể đi vào thiết kế một hệ thống quản lý, giám sát đối với tất cả phương tiện đang hoạt động. Chương 2: Thiết kế hệ thống quản lý, giám sát phương tiện thủy nội địa tại tỉnh Kiên Giang Trong chương này, tác giả sẽ sử dụng những kiến thức, cũng như cập nhật các cơ sở dữ liệu để xây dựng hệ thống quản lý, giám sát đối với phương tiện và thiết kế phần cứng đáp ứng được yêu cầu của hệ thống. Chương 3: Thử nghiệm và đánh giá Trong chương này, trên cơ sở nghiên cứu cơ bản về IoT, một số thiết bị cảm biến thông dụng, tác giả xây dựng một chương trình thực nghiệm (trên thiết bị thật) để quản lý, giám sát các thông số của phương tiện: tốc độ di chuyển; vị trí đang hoạt động (kinh độ, vĩ độ); độ cao sóng biển.
Sau đó, tiến hành chạy thử nghiệm chương trình, đánh giá các kết quả đạt được và so sánh với mục tiêu, yêu cầu đặt ra đối với luận văn. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ, GIÁM SÁT PHƯƠNG TIỆN THỦY TẠI TỈNH KIÊN GIANG Quản lý đóng vai trò quan trọng trong mọi chế độ xã hội và mọi lĩnh vực ngành nghề, quản lý bao trùm lên toàn bộ hoạt động của xã hội. Quản lý một cách khoa học sẽ đem lại những lợi ích vô cùng to lớn. Quản lý có nguyên tắc và phương pháp chung nhất song đi sâu vào từng ngành nghề, từng lĩnh vực chúng có những đặc thù riêng.
Chính vì vậy, mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực đều phải nghiên cứu để tìm ra cách thức, phương pháp quản lý khoa học nhất đối với ngành nghề, lĩnh vực của mình. Tại tỉnh Kiên Giang đã được phê duyệt chủ trương cho Quy hoạch chi tiết phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa tỉnh Kiên Giang đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030 (theo Quyết định số 2834/QĐ-UBND ngày 13/12/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang). KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, GIÁM SÁT PHƯƠNG TIỆN THỦY NỘI ĐỊA TẠI TỈNH KIÊN GIANG Công tác quản lý Nhà nước chuyên ngành Giao thông vận tải đường thủy nội địa tại tỉnh Kiên Giang được đơn vị Cảng vụ đường thủy nội địa trực thuộc Sở Giao thông vận tải quản lý, giám sát và chỉ đạo điều hành đúng theo chức năng, nhiệm vụ đảm bảo an toàn trật tự giao thông đường thủy nội địa đối với các phương tiện thủy nội địa ra, vào tại các cảng, bến thủy nội địa và phòng ngừa ô nhiễm môi trường. Vận tải hành khách trên các tuyến từ bờ ra các đảo, quanh đảo và ngược lại tại tỉnh Kiên Giang đang ngày càng phát triển vượt kế hoạch.
Hiện nay có 15 đơn vị kinh doanh vận tải đang hoạt động trên 5 tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo, bao gồm Tuyến Rạch Giá - Phú Quốc; Hà Tiên - Phú Quốc; 7 Rạch Giá - Nam Du; Nam Du - Phú Quốc; Thổ Châu - Phú Quốc (với 62 phương tiện, trong đó có 34 phương tiện cao tốc, 17 tàu phà chở được ô tô, 5 tàu sắt và 6 tàu gỗ). Ngoài ra, còn có 80 phương tiện hoạt động đưa khách tham quan du lịch quanh các đảo huyện Phú Quốc, Nam Du, Lại Sơn, Hòn Tre; Hòn Phụ Tử, Ba Hòn Đầm… được Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang cho phép hoạt động theo biểu đồ bình thường đã đăng ký trên tất cả các tuyến (không giới hạn số chuyến và số phương tiện hoạt động) [7]. Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Minh Thành cho biết: Hoạt động vận tải hành khách của tỉnh Kiên Giang rất năng động, có đội tàu vận tải hành khách lớn nhất cả nước, góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Trong 5 năm qua, vận chuyển hành khách trên các tuyến từ bờ ra đảo tăng trung bình từ 13- 15% mỗi năm.
Nhu cầu hiện nay của Kiên Giang chủ yếu phục vụ cho hành khách du lịch đi các đảo và hàng hoá thông thường [7]. Trong 09 tháng đầu năm 2020, toàn tỉnh Kiên Giang thu hút 20 dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch, với tổng diện tích 337,28 ha, tổng vốn đầu tư 17. Trong đó, có 17 dự án đầu tư vào địa bàn huyện Phú Quốc, ba dự án đầu tư vào thành phố Rạch Giá. Đến nay, toàn tỉnh Kiên Giang có 320 dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch, tổng diện tích 10.399 ha, tổng vốn đầu tư 352.
Riêng địa bàn huyện Phú Quốc có 276 dự án đầu tư vào du lịch. Đối với hệ thống cảng biển tại Kiên Giang bao gồm 12 khu bến: Khu bến Hòn Chông, Bãi Nò, Bình Trị, Rạch Giá, Phú Quốc (gồm cảng An Thới, Vịnh Đầm, Dương Đông, Mũi Đất Đỏ, Bãi Vòng, Đá Chồng, Nam Du) [8]. Là tỉnh có thế mạnh về Giao thông đường thủy, nhưng công tác quản lý Nhà nước ở Kiên Giang trên lĩnh vực này thời gian qua chưa được coi trọng. Ðẩy mạnh công tác quản lý, giám sát, điều hành phương tiện là một trong những cách làm mà tỉnh đang thực hiện nhằm hạn chế những nguy cơ tai nạn 8 giao thông tiềm ẩn có thể xảy ra.
Tuy nhiên, công tác quản lý, điều hành hoạt động đường thủy nội địa trên địa bàn tỉnh chủ yếu theo phương pháp truyền thống. Theo đó, các bộ phận chuyên môn trực thuộc thực hiện chức năng quản lý, giám sát hoạt động của phương tiện thủy nội địa ra, vào cảng, bến thủy nội địa và phòng ngừa ô nhiễm môi trường bằng hình thức tuần tra, báo cáo và xử lý khi có sự việc xảy ra. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, giám sát phương tiện thủy vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển về đường thủy và tạo sự chủ động trong việc giám sát, cảnh báo, đặc biệt đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường thủy. Quy trình quản lý, giám sát đối với phương tiện thủy được thực hiện như sau: khi phương tiện ra, vào cảng, bến thuộc Cảng vụ quản lý, đại diện bên phương tiện phải trực tiếp đến văn phòng của Cảng vụ để làm thủ tục và sau đó đại diện bên Cảng vụ xuống phương tiện để kiểm tra thực tế cấp phép.
Điều này khiến mất nhiều thời gian đi lại của hai bên (Cảng vụ và phương tiện) và đặc biệt là nguồn nhân sự để thực hiện việc kiểm tra thực tế. Tuy nhiên, một vấn đề nan giải được đặt ra đó là Cảng vụ không thể quản lý, giám sát một số thông tin của phương tiện khi đang hoạt động trên biển như: Tốc độ di chuyển, vị trí hiện tại… Trước nhu cầu thực tế đó, để quản lý, giám sát được tất cả hoạt động của phương tiện thủy nội địa, thì đòi hỏi đơn vị Cảng vụ phải ứng dụng được công nghệ thông tin vào công tác chuyên môn, cũng như ứng dụng bản đồ điện tử và thiết bị định vị GPS giúp hỗ trợ cho công tác quản lý, giám sát phương tiện đang hoạt động trên biển nhanh chóng, kịp thời, chính xác, hiệu quả, nhằm giảm thiểu được thời gian và nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, xử lý vi phạm, góp phần bảo đảm an toàn giao thông đường thủy nội địa. 9 Tóm lại, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động quản lý, giám sát phương tiện thủy nội địa. Tuy nhiên, quản lý, giám sát là yếu tố quan trọng nhất, bởi một mô hình cơ cấu tổ chức phù hợp và phương pháp, cơ chế quản lý khoa học sẽ đem lại những lợi ích vô cùng to lớn; tiết kiệm chi phí và thời gian, tiết kiệm sức lao động, giảm thiểu những hư hao vật chất, tăng năng suất lao động và tạo được hiệu quả cao nhất trong công việc.
TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ IOT 1. Internet of Things (IoT) là gì 1. Internet of Everything (IoE) Khái niệm về IoE nổi lên như một sự phát triển tự nhiên IoT và kết hợp rộng với chiến thuật của Cisco System để thiết lập một miền thị trường mới. IoE bao gồm 4 thành phần chính: - Con người: sử dụng các thiết bị đầu cuối kết nối với Internet để chia sẻ thông tin và các hoạt động của họ.
Ví dụ chia sẻ thông tin trên các trang mạng xã hội và hoạt động liên quan sức khoẻ. - Vật: các cảm biến, các thiết bị vật lý và các vật khác tạo ra dữ liệu haynhận thông tin từ các nguồn khác nhau. Ví dụ bộ điều chỉnh nhiệt độ và thiết bị điện tử thông minh. - Dữ liệu: dữ liệu thô được phân tích và xử lý thành thông tin có ích để đưa ra các quyết định thông minh và để điều khiển thiết bị.
Ví dụ từ việc ghi các thông số về nhiệt độ trong phòng thường xuyên, thực hiện chuyển đổi thành số giờ nhiệt độ cao trung bình trong ngày để ước lượng yêu cầu làm mát phòng đó. - Quy trình: tăng khả năng kết nối giữa dữ liệu, đồ vật và con người để thêm giá trị. Ví dụ, việc sử dụng các thiết bị cân nặng thông minh và các trang 10 mạng xã hội để quảng cáo việc chăm sóc sức khoẻ nhằm chào mời các khách hàng. IoE thiết lập hệ thống kết nối thiết bị đầu cuối này với thiết bị đầu cuối khác bao hàm các công nghệ, xử lý, và mô hình hoá được sử dụng trên tất cả các trường hợp sử dụng kết nối.
Internet of Things (IoT) Ngay từ thời kỳ sơ khai của Internet, khi các nhà phát minh mong muốn kết nối tất cả mọi thứ qua một mạng lưới đồng nhất để có thể điều khiển chúng phục vụ cho mục đích của con người, đây được xem như một dạng biểu hiện của IoT. Theo định nghĩa của Nhóm các dự án nghiên cứu Châu Âu: “Things” là các thành phần “tích cực” có mặt trong các lĩnh vực đời sống – xã hội, ở đó chúng có thể tương tác, liên lạc với nhau và với môi trường bằng sự trao đổi dữ liệu và trao đổi thông tin cảm nhận được từ môi trường. Việc trao đổi, tương tác và liên lạc với nhau có thể không cần sự can thiệp của con người.