ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), quản lý thuế hiện đại mặc nhiên chứa đựng hai thuộc tính là hiệu suất (efficiency) và hiệu quả (effectiveness). Cụ thể, “Quản lý thuế hiện đại phải thu đầy đủ số thuế đúng hạn với chi phí tối thiểu cho Chính phủ và gây ít gánh nặng nhất đối với người nộp thuế”1. Chính phủ nhiều quốc gia tách quản lý thuế thành hai mảng là quản lý thuế nội địa và quản lý thuế đối với thương mại Quốc tế. Tại Việt Nam, quản lý thuế nội địa do Tổng cục Thuế đảm nhiệm, quản lý thuế đối với hàng nhập khẩu - xuất khẩu do Tổng cục Hải quan phụ trách2.
Thu các khoản thuế liên quan đến hàng nhập khẩu - xuất khẩu là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của ngành Hải quan Việt Nam. Dự toán thu từ hoạt động nhập khẩu - xuất khẩu do Quốc hội giao cho ngành Hải quan giai đoạn 2011 đến 2015 lần lượt là: 180.000 tỷ đồng và 260.000 tỉ đồng, chiếm bình quân xấp xỉ 20,0%/tổng thu ngân sách quốc gia3. Dự toán thu Quốc hội giao cho ngành Hải quan (2011-2015) Nguồn: Tổng cục Hải quan (2011 - 2015) 1 “A 'modern' tax administration is one that is effective and efficient. …a modern tax administration collects the right amount of tax, at the right time, and does so at minimal cost to the government and the least burden to taxpayers”.
2 Hai mảng này có nên gộp thành một, tức là cơ quan thuế và cơ quan hải quan có nhập chung vào nhau hay không, là một đề tài còn nhiều tranh cãi. 3 Bộ Tài chính (2014). 2 Khu vực Tây Nam Bộ có sáu Cục Hải quan gồm: Hải quan Long An, Hải quan Đồng Tháp, Hải quan Cần Thơ, Hải quan An Giang, Hải quan Kiên Giang và Hải quan Cà Mau. Cục Hải quan tỉnh Long An là đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan trên địa bàn 03 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre.
Năm 2012, Cục Hải quan tỉnh Long An được Bộ Tài chính giao dự toán thu nộp ngân sách là: 935 tỷ (Bộ Tài chính, 2011), tăng 160% so với chỉ tiêu được giao năm 2011 là: 360 tỷ đồng (Bộ Tài chính, 2010); Chỉ tiêu thu nộp ngân sách năm 2014 là: 1.060 tỷ đồng (Bộ Tài chính, 2013), giảm 13,1% so với chỉ tiêu được giao năm 2013 là: 1.220 tỷ đồng (Bộ Tài chính, 2012), tuy nhiên về phía ngành thì Tổng cục Hải quan giao chỉ tiêu phấn đấu năm 2014 là: 1.680 tỷ đồng (Tổng cục Hải quan, 2014), tăng 57% so chỉ tiêu được giao năm 2013 là: 1. Chỉ tiêu thu nộp ngân sách năm 2015 là: 1.850 tỷ đồng (Bộ Tài chính, 2014), tăng đến 10,1% so với chỉ tiêu được giao của năm 2014. Xét riêng năm 2015, nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước từ các khoản thuế liên quan đến nhập khẩu - xuất khẩu của Cục Hải quan tỉnh Long An chiếm đến 38,9% cả khu vực Tây Nam bộ, chỉ đứng thứ hai sau Cục Hải quan Thành phố Cần Thơ, vượt xa bốn Cục Hải quan còn lại. Điều đó cho thấy tầm quan trọng về phương diện thu ngân sách nhà nước của Cục Hải quan tỉnh Long An trong Vùng.
Dự toán thu 2015 của Hải quan Khu vực Tây Nam Bộ Nguồn: Bộ Tài chính (2014) 3 Số liệu trên cho thấy dự toán thu từ hoạt động nhập khẩu - xuất khẩu ở cấp quốc gia, Vùng hay cấp Tỉnh thường có xu hướng năm sau cao hơn năm trước. Trong khi đó, theo lộ trình hội nhập và cam kết khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các Hiệp ước Thương mại Tự do (FTA) thì chính sách thuế buộc phải cắt giảm dần hàng năm. Chính vì thế, hoàn thành được chỉ tiêu thu ngân sách nhà nước hàng năm và những chỉ tiêu phi tài chính khác là một trong những nhiệm vụ của cơ quan Hải quan. Muốn vậy, phải đánh giá một cách khách quan, toàn diện những tác động có liên quan đi đôi với xây dựng kế hoạch và thực thi những giải pháp hữu hiệu cho từng nhóm ngành, từng đối tượng doanh nghiệp.
Cụ thể, phải phân tích phản ứng từ phía cộng đồng doanh nghiệp nhập khẩu - xuất khẩu khi làm thủ tục hải quan nhằm đề ra giải pháp quản lý thu đối với từng đối tượng, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật để được hưởng ưu đãi hải quan, góp phần thu hút đầu tư vào Tỉnh và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Chính những yếu tố trên là động cơ khiến tôi quyết định chọn đề tài: “Hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu - xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Long An” làm luận văn thạc sĩ quản lý công với kỳ vọng đánh giá được những khía cạnh của hiệu quả quản lý thuế hoặc những tiêu chí phản ảnh hiệu quả quản lý thuế và tìm ra được giải pháp quản lý hiệu quả thuế nhập khẩu - xuất khẩu thuộc phạm vi địa bàn. Ngoài ý nghĩa khoa học, nghiên cứu thành công đề tài này có thể sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn quản lý thuế tại Cục Hải quan tỉnh Long An trong điều kiện cải cách hiện đại hóa hải quan. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Luận văn hướng đến hai mục tiêu sau đây: Một là, đánh giá được mức cấu thành của các tiêu chí (nhân tố) đến hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu - xuất khẩu thuộc phạm vi quản lý của Cục Hải quan tỉnh Long An giai đoạn 2011 - 2015.
Hai là, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu - xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Long An. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Để đạt hai mục tiêu nên trên, Luận văn xuất phát từ hai câu hỏi: - Hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu - xuất khẩu được đo bằng những tiêu chí nào? - Giải pháp khả thi để nâng cao hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu - xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Long An là gì? 1. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU Luận văn nghiên cứu những tiêu chí (nhân tố) cấu thành nên hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu - xuất khẩu. Nói cách khác, Luận văn nghiên cứu nội hàm của hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu - xuất khẩu, chứ không phải các nhân tố bên ngoài tác động đến hiệu quả quản lý thuế.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn trong hoạt động quản lý thuế đối với giao dịch thương mại qua biên giới thuộc thẩm quyền của Cục Hải quan tỉnh Long An giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và bình phương bé nhất (OLS) để định lượng tầm quan trọng của những tiêu chí (nhân tố) trong đánh giá hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu - xuất khẩu thuộc phạm vi quản lý của Cục Hải quan tỉnh Long An. Thông tin thu thập ở dạng thứ cấp được lấy từ báo cáo hàng năm của Cục Hải quan tỉnh Long An, báo cáo của Tổng cục Hải quan, báo cáo của Bộ Tài chính và dạng sơ cấp thông qua phiếu khảo sát điều tra tại địa bàn thuộc Cục Hải quan tỉnh Long An. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU - XUẤT KHẨU Nội dung Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu - xuất khẩu, trong đó, phần đầu chương giới thiệu về thuế nói chung và thuế liên quan đến hàng nhập khẩu - xuất khẩu.
Tiếp theo là phân tích nội dung của khái niệm hiệu quả quản lý thuế và lược khảo những công trình có liên quan đến hiệu quả quản lý thuế. Giới thiệu về khung đánh giá hiệu quả quản lý các khoản thuế liên quan đến hàng hóa nhập khẩu - xuất khẩu. Cuối cùng là giới thiệu quy trình, phương pháp chọn mẫu, quy mô mẫu và các phương pháp nghiên cứu. HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU - XUẤT KHẨU 2.
Các loại thuế liên quan đến nhập khẩu - xuất khẩu Để tạo nguồn thu, Chính phủ sử dụng nhiều công cụ như đặt ra lệ phí và phí, bán tài sản công, đầu tư vào công ty cổ phần và đánh thuế. Trong đó, thuế là công cụ phổ biến và mang lại số thu lớn nhất. Có nhiều định nghĩa về thuế bởi các học giả và những tổ chức. Chẳng hạn, Gaston Jeze (1934) đã đưa ra khái niệm thuế là “Một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nước”.
Luận văn này sử dụng định nghĩa của Tổ chức và hợp tác phát triển kinh tế (OECD), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) được trích dẫn trong tài liệu của Cơ quan Viện trợ Phát triển Hoa kỳ: Thuế là khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn của chính phủ4. Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng nói chung thuế là một khoản tiền mà các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp theo luật định cho nhà nước theo mức độ, thời hạn cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước, điều tiết vĩ mô của nền kinh tế, phân phối lại thu nhập và của cải của xã hội, kiểm soát quá trình phân phối và mức chi tiêu trong nền kinh tế, thay đổi tập quán tiêu dùng của xã hội và không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp 4 “Taxes are the compulsory, unrequited payments to the general government sector”. Một phần thuế mà các tổ chức và cá nhân đóng góp được trả về với người dân một cách gián tiếp dưới các hình thức như trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội,. Hệ thống thuế có thể được phân chia theo nhiều tiêu chí như phân theo đối tượng đánh thuế hoặc phân theo phạm vi lãnh thổ.
Theo đối tượng đánh thuế (tax object), hệ thống thuế được phân thành ba nhóm: nhóm thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ, nhóm thuế đánh vào thu nhập và nhóm thuế đánh vào tài sản. Theo phạm vi lãnh thổ, hệ thống thuế được chia thành (1) thuế nội địa và (2) thuế liên quan đến các giao dịch qua biên giới, hay thuế ngoại thương. Thuế nội địa là những sắc thuế liên quan đến các giao dịch bên trong biên giới lãnh thổ một quốc gia. Chúng bao gồm thuế hàng hóa, dịch vụ, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế môi trường, và một số loại thuế đặc thù phù hợp điều kiện riêng mỗi đất nước.
Thuế ngoại thương là những sắc thuế liên quan đến giao dịch qua biên giới. Chủ đạo trong các sắc thuế ngoại thương là thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu (Duty Tax).