CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan ngân hàng thương mại: 1. Khái niệm ngân hàng thương mại và các hoạt động ngân hàng thương mại: - Khái niệm: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này, nhằm mục tiêu lợi nhuận” – Khoản 4, Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng. Luật Ngân hàng thương mại của các nước khác trên thế giới đều khẳng định: Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường với nhiệm vụ nhận tiền gửi của công chúng dưới hình thức ký thác, và sử dụng nguồn lực đó cho các nghiệp vụ về tín dụng, chiết khấu và các hoạt động dịch vụ khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Theo Giáo sư Peter S.Rose trong cuốn “Quản trị ngân hàng thương mại” thì Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Còn theo Ngân hàng Thế giới định nghĩa: Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu ở dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiết kiệm). Luật pháp nước Mỹ thì cho rằng” “Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng gửi tiền theo yêu cầu và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng”. Từ những định nghĩa nói trên có thể rút ra Ngân hàng là một trong những định chế tài chính, mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
8 Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. - Các hoạt động ngân hàng thương mại: NHTM là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế: NHTM hoạt động trong một ngành kinh tế, có cơ cấu tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, phải tự chủ về kinh tế và phải có nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước như các đơn vị kinh tế khác. Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh. Để hoạt động kinh doanh, các NHTM phải có vốn (vốn được cấp nếu là ngân hàng công, được cổ đông góp vốn nếu là ngân hàng cổ phần …) phải tự chủ về tài chính (tự lấy thu nhập để bù đắp chi phí); đặc biệt hoạt động kinh doanh cần đạt đến mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của NHTM cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Tuy nhiên việc tìm kiếm lợi nhuận là phải chính đáng trên cơ sở chấp hành luật pháp của nhà nước. Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội và mặt khác lĩnh vực tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực “nhạy cảm”, nó đòi hỏi một sự thận trọng và khéo léo trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho xã hội. Lĩnh vực hoạt động này của NHTM góp phần cung ứng một khối lượng vốn tín dụng rất lớn cho nền kinh tế - xã hội.
Tóm lại, NHTM là loại hình định chế tài chính trung gian hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là loại định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường góp phần tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển. Các nguồn vốn của Ngân hàng thương mại: Nguồn vốn của NHTM bao gồm các loại nguồn vốn sau đây: - Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động kinh doanh. Mặc dù nguồn vốn này không chiếm tỷ trọng lớn nhưng có ý nghĩa rất quan trọng.
Vốn chủ sở hữu gồm có: + Vốn điều lệ: được tạo lập ban đầu khi mới thành lập NHTM và được ghi vào điều lệ ngân hàng. Vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật. Vốn điều lệ được ngân sách nhà nước cấp nếu đó là ngân hàng công, do các cổ đông đóng góp theo cổ phần nếu là ngân hàng cổ phần. Vốn điều lệ có thể được thay đổi theo xu hướng tăng lên nhờ được cấp bổ sung, hoặc phát hành cổ phiếu bổ sung, hoặc được kết chuyển từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ theo quy định của luật pháp mỗi nước.
Vốn điều lệ được sử dụng trước hết để xây dựng, mua sắm tài sản cố định, các phương tiện làm việc và quản lý, tạo ra cơ sở vật chất cho hoạt động ngân hàng. Ngoài ra các NHTM còn được sử dụng vốn điều lệ để hùn vốn liên doanh, cấp vốn cho các công ty trực thuộc và các hoạt động kinh doanh khác. + Các quỹ của ngân hàng: là một tổ chức kinh tế, vì vậy các NHTM đều được quyền trích lập các quỹ như các đơn vị kinh tế khác, để sử dụng cho những mục đích nhất định. Ngoài ra các NHTM hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng nên hầu hết hệ thống luật ở các nước đều cho phép các NHTM được trích lập Quỹ dự trữ bổ sung điều lệ.
Thông thường quỹ này được trích theo tỷ lệ quy định (khoảng 5%) từ lợi nhuận ròng hàng năm, cho đến khi nào số dư quỹ này ngang bằng vốn điều lệ. Các quỹ của NHTM gồm: quỹ dự trữ, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng, phúc lợi… - Vốn huy động: là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu (bao gồm cả pháp nhân và cá nhân) mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng. Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của các NHTM. Tính chất quan trọng của vốn huy động được thể hiện ở chỗ nó không thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của các ngân hàng, mà còn là tiền nhàn rỗi của xã hội được huy động và tập trung để sử dụng có hiệu quả cho các yêu cầu của nền kinh tế - xã hội.
10 Theo luật các tổ chức tıń dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 của Quốc hội, ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức dưới đây: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ gốc và lãi cho người gửi tiền theo thoả thuận. Vốn huy động (tài sản nợ - Nợ phải trả) là phần còn lại của tài sản sau khi đã loại trừ tài sản hình thành từ vốn tự có của ngân hàng. Tài sản Nợ tương ứng với Nợ phải trả thể hiện trong Bảng cân đối kế toán Quản lý vốn huy động là quản lý quá trình huy động vốn, và quản lý nguồn vốn huy động, đảm bảo cho NHTM luôn có đủ nguồn vốn để duy trì và phát triển các hoạt động KD với chi phí hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất. - Vốn đi vay: chiếm vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của NHTM nhưng đồng thời là nguồn vốn mang ý nghĩa thiết lập sự cân bằng trong cân đối và sử dung vốn của mỗi NHTM.
Đối với các ngân hàng vừa và nhỏ tình trạng thiếu vốn kinh doanh diễn ra thường xuyên cần phải bổ sung nguồn vốn bằng cách đi vay các ngân hàng khác. Đối với những ngân hàng có điều kiện mở rộng cho vay, thủ tục cho vay đơn giản, điều kiện cho vay thoáng và lãi suất hấp dẫn hơn sẽ bị thiếu vốn. Do đó, NHTM sẽ đi vay để đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng. NHTM nào đã sử dụng hết nguồn vốn khả dụng mà vẫn còn phát sinh nhu cầu vay vốn của khách hàng thì ngân hàng đó đang ở trong trạng thái hung thịnh, vốn vay ngân hàng khác vừa giúp họ mở rộng tín dụng vừa giúp giữ khách hàng.Vốn đi vay gồm: vay ngân hàng trung ương và vay các NHTM khác.
- Vốn tiếp nhận: là nguồn vốn tiếp nhận từ các nhà tài trợ của chính phủ, tổ chức tài chính và tư nhân để tài trợ theo các chương trình dự án và phát triển kinh tế - xã hội. Ngân hàng nào được tiếp nhận và chuyển giao vốn này, thực hiện dịch vụ trung gian tài chính theo yêu cầu của nhà tài trợ và được hưởng hoa hồng dịch vụ tài chính trung gian. Thường các ngân hàng lớn có đủ uy tín mới đủ điều kiện để được chỉ định. 11 - Vốn khác: vốn phát sinh trong quá trình hoạt động không thuộc các nguồn nói trên như vốn phát sinh trong khi làm đại lý chuyển tiền, thanh toán, công nợ chưa đến hạn phải trả.
Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nên các NHTM đều tập trung để thu hút nguồn vốn huy động. Phân loại vốn huy động và các hình thức huy động vốn của NHTM: 1. Phân loại huy động vốn: Vốn huy động theo tính chất được phân loại thành 2 nhóm: Nhóm 1: Vốn huy động hoạt kỳ, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế cá nhân, tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức tín dụng khác. Đây là loại tiền gửi mà theo tính chất của nó, khách hàng được linh hoạt sử dụng, người ta gọi đó là tiền gửi có thể phát séc để chỉ tính linh hoạt của nó.
Chủ tài khoản được quyền lập thư chuyển tiền, phát hành séc rút tiền từ tài khoản một cách tự do, không phải báo trước. Các đơn vị, cá nhân gửi tiền vào tài khoản này không nhằm mục đích hưởng lãi, mà nhằm phục vụ nhu cầu giao dịch thanh toán cho chính mình. Vì vậy đối với loại vốn này, lãi suất không phải là công cụ chính để thu hút nguồn vốn này, mà công cụ chính là dịch vụ mà ngân hàng cung cấp kèm theo có đơn giản, thuận lợi, an toàn và nhanh chóng kịp thời hay không.