Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là lá phổi xanh khổng lồ của nhân loại. Rừng là tài nguyên quý giá của nhân loại, rừng giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội của con người. Rừng không chỉ là nơi cung cấp thức ăn, vật liệu xây dựng, thuốc chữa bệnh., mà còn tham gia vào quá trình giữ đất, giữ nước, điều hòa khí hậu, phòng hộ và bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn gen động vật, thực vật, đa dạng sinh học. bên cạnh đó rừng là nơi học tập, nghỉ mát, tham quan du lịch, do đó rừng đóng góp vai trò rất quan trọng và góp phần đáng kể vào nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia.
Theo tài liệu mà Maurand p. công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 rừng nước ta vẫn còn khoảng 14,3 triệu ha, che phủ 43,7% diện tích lãnh thổ. Vào thời kì đó độ che phủ ở Bắc Bộ vào khoảng 68%, ở Trung Bộ khoảng 44% và ở Nam Bộ vào khoảng 13%. Trước năm 1945, rừng nguyên sinh ở Việt Nam bị phá hoại rất nhiều và chỉ còn lại ở những nơi xa xôi, hiểm trở, nhưng do khả năng phục hồi của rừng rất cao nên những khu rừng già có trữ lượng cao (từ 250m3 - 300m3), vẫn còn khá phổ biến ở nhiều vùng núi Việt Nam.
Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những nằm 1990, đặc biệt từ năm 1980-1995 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, bình quân mỗi năm hơn 100 ngàn ha rừng bị mất. Ở Việt Nam theo số liệu thống kê ở Quảng Ninh từ năm 1962 - 1963 bị cháy 15.800 ha rừng thông, ở Huế mùa hè năm 1991 do ý thức kém của người dân làm cháy 300 ha rừng thông, ở An Giang và Long Xuyên trong 3 năm từ 1987 - 1990 làm cháy 2.850 ha rừng tràm. Đặc biệt những vụ cháy rừng lớn ở c 2 U Minh Thượng tháng 2 - 2002 làm cháy 3.212 ha rừng tràm, cháy rừng tại vườn quốc gia Hoàng Liên (Lào Cai) tháng 2-2010 với diện tích là 1.700 ha (Tài liệu tập huấn công tác phòng cháy chữa cháy rừng) [6] Theo ban chỉ đạo trung ương phòng cháy chữa cháy rừng quý I năm nay cả nước xảy ra 45 vụ cháy gây thiệt hại 632 ha rừng. Đồng Hỷ là một trong các địa phương trọng điểm để sẩy ra cháy rừng của tỉnh Thái Nguyên.
Với diện tích đất lâm nghiệp là 24.118 ha, trong đó diện tích rừng có là 23. 026,4 ha, diện tích đất trống đồi núi trọc chủ yếu là cây bụi thảm thực bì dầy đặc và chịu mùa khô khắc nghiệt kéo dài 6 tháng, từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 4 năm sau, là cho vật liệu cháy rừng khô nỏ. Khối lượng vật liệu cháy trong rừng bình quân từ 18 – 20 tấn/ha, nên rất dễ sảy ra cháy rừng, làm cho đất bị bạc màu, khô cằn, xói mòn, làm phá vỡ môi trường sinh thái. Do vậy việc phòng chống cháy rừng là mối quan tâm lớn của Đảng , Chính Phủ, của các cấp, các ngành và của toàn xã hội.
Để hạn chế thiệt hại sảy ra mỗi địa phương cần phải xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ. Phương án được xây dựng sẽ tạo ra động lực mới để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng của Huyện, nhăm làm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra, góp phần bảo vệ và phát triển vốn rừng trên địa bàn Huyện. Trước những thực tế trên, một nhiệm vụ cấp bách là phải nghiên cứu xây dựng những giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng có hiệu quả cho các địa phương. Để góp phần làm cơ sở khoa học cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại địa phương tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tổ chức dự báo, phòng cháy và chữa cháy rừng tại hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Xác định được quá trình tổ chức và kết quả dự báo, phòng cháy và chữa cháy rừng tại Hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ. - Rút ra một số bài học kinh nghiệm trong tổ chức và thực hiện dự báo, phòng cháy và chữa cháy rừng tại Hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ. c 4 Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái quát về cháy rừng và công tác phòng cháy chữa cháy rừng 2.
Cháy rừng Theo tài liệu quản lý lửa rừng của tổ chức Nông Lương thế giới (FAO) cháy rừng là “sự xuất hiện và lan truyền các đám cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người, gây lên những tổn thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường.” Một phản ứng cháy xảy ra khi đủ các yếu tố - Vật liệu cháy: Là những chất có khả năng bén lửa và bốc cháy trong điều kiện có đủ nguồn nhiệt và oxy. - Oxy: oxy tự do luôn sẵn có trong không khí (nồng độ khoảng 21- 22%) và lấp đầy các khoảng trống giữa vật liệu cháy. Khi nồng độ oxy giảm xuống dưới 15% thì không còn khả năng duy trì sự cháy. - Nguồn lửa (nguồn nhiệt gây cháy) Nguồn lửa gây cháy gây ra cháy rừng có nhiều nhưng có thể chia ra làm 2 nhóm: lửa do các hiện tượng tự nhiên và lửa do các hoạt động của con người.
+ Nguồn lửa do các hiện tượng tự nhiên gây ra như sấm sét, núi lửa, động đất, v. rất khó khống chế. Nguyên nhân này này chiếm tỷ lệ thấp 1- 5% và chỉ xuất hiện trong những điều kiện hết sức thuận lợi cho quá trình phát sinh nguồn lửa tiếp xúc với các vật liệu khô nóng trong rừng. + Trong thực tế nguồn lửa gây ra các đám cháy trong rừng là do con người gây nên như từ các hoạt động cố ý hay vô ý như: đốt nương, đốt ong, đốt lửa sưởi ấm, vv.
Theo thống kê nguồn lửa gây cháy rừng do hoạt động của con người chiếm trên 90%. c 5 Nếu thiếu 1 trong 3 nhân tố trên quá trình cháy không xảy ra, sự kết hợp 3 nhân tố này tạo thành một tam giác lửa.[7] Nguồn lửa Oxy Vật liệu cháy Hình 2. Tam giác lửa Qua hình 2.1 nếu thay đổi giảm hoặc phá hủy 1, hoặc 2 cạnh thì “tam giác lửa” sẽ thay đổi phá vỡ, điều đó có nghĩa là đám cháy bị suy yếu hoặc bị dập tắt. Đây cũng là cơ sở khoa học của của công tác PCCCR.
Vấn đề PCCCR cũng cần lưu ý cả ba yếu tố trên: - Giảm bớt vật liệu cháy trước mùa khô hanh - Kiểm soát các nguồn lửa - Ngăn sự tiếp xúc của Oxy với vật liệu cháy. Các loại cháy rừng Có ba tầng vật liệu cháy chủ yếu phân bố trong rừng là dưới mặt đất, sát mặt đất và trên tán rừng. Từ cơ sở khoa học này sự phân bố theo không gian, thực tiễn và sản xuất kinh doanh, người ta chia ra làm ba loại cháy rừng là: Cháy dưới tán, cháy tán rừng và cháy ngầm. Cháy dưới tán Cháy dưới tán rừng là những đám cháy mà ngọn lửa lan tràn trên mặt đất làm thiêu hủy một phần hoặc toàn bộ thảm mục, cành khô, lá rụng và thảm cỏ cây bụi,… và một phần nào đó ở gốc cây.
Nhiệt độ có thể lên tới >4000C (Phạm Ngọc Hưng, 1993) [10]. Đây là loại cháy rừng phổ biến nhất ở Việt Nam, chiếm khoảng 97% tổng số vụ cháy rừng. Đặc điểm của cháy rừng dưới tán rừng: Lửa cháy lan nhanh và không vượt lên tán rừng, thường ở dưới đoạn phân cành của rừng. Sau khi cháy rừng, các cây nhỏ ở mặt đất bị cháy trụi và rừng còn lại chủ yếu là cây gỗ lớn.
Loại cháy rừng này thường gặp ở ngưỡng khu rừng thưa, rừng phân bố trên địa hình tương đối dốc, các savan trong đó có cây bụi, thảm cỏ chiếm ưu thế và những khu rừng khô, rụng lá theo mùa, rừng trồng có tầng thảm mục khô nỏ nhưng không dày lắm. Ở những savan cây bụi, cháy lan theo chiều gió rất nhanh nhưng cũng chóng tàn. Căn cứ vào tốc độ cháy mà người ta phân ra cháy dưới tán thành 2 loại: Cháy lướt nhanh và cháy chậm ổn định (Phạm Ngọc Hưng, 1993) [10]. - Cháy lướt nhanh ở mặt đất rừng: Là loại cháy xảy ra khi vật liệu cháy khô, tốc độ cháy có thể đạt tới trên 180m/h, sức cháy yếu ngọn lửa thấp nên tác hại ít hơn cháy chậm.
Nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của tốc độ gió ở bề mặt đất rừng, tuy nhiên loại cháy này rất dễ chuyển thành cháy tán. Đặc biệt là ở rừng Thông và rừng Khộp ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. - Cháy rừng dưới tán chậm ổn định: Có tốc độ cháy nhỏ hơn 180m/h, thường xảy ra ở nơi tích tụ nhiều vật liệu cháy với độ ẩm vật liệu cháy dưới và tầng giữa là >30%. Cháy chậm ổn định thiêu hủy hoàn toàn c 7 lớp cây bụi thảm tươi, cây non tái sinh và thảm mục, cháy xung quanh rễ và cỏ cây rừng, gây thiệt hại nặng cho rừng và ảnh hưởng xấu cho cây rừng còn lại.
+ Loại cháy này tốc độ chậm, khói nhiều và đen hơn, ngọn lửa ít khi cao quá 2m, cháy dưới tán ổn định rất dễ chuyển thành cháy ngầm ở những nơi có tầng than bùn. + Cháy dưới tán thường gây thiệt hại cho tất cả các loài cây con non - cây tái sinh, khả năng tái sinh sau cháy rừng (Phạm Ngọc Hưng, 1993) [10]. Cháy tán rừng (cháy trên ngọn) Sự lan truyền của ngọn lửa trên tầng tán của rừng được gọi là cháy dưới tán rừng. Cháy tán rừng là hình thức cháy rừng được phát triển từ cháy dưới tán lên tán rừng, nhiệt lượng tỏa ra lớn có thể lên tới 900 0C.
Khi cháy dưới tán ngọn lửa đốt nóng và làm khô tán rừng sau đó cháy qua các cây tái sinh, cây bụi rồi cháy lên tán rừng và ngọn lửa sẽ lan từ tán này sang tán khác (Phạm Ngọc Hưng, 1993) [10]. Loại cháy này chiếm khoảng 2% trong tổng số vụ cháy. Tuy nhiên thiệt hại là rất lớn đối với hệ sinh thái rừng. Cháy tán rừng thường xuyên xuất hiện ở những kiểu rừng có mật độ tán dày của những loài cây có dầu, khi gió mạnh và thời tiết khô nóng kéo dài.
Cháy tán cũng có hai loại: Cháy tán ổn định (cháy toàn bộ tán rừng) và cháy lướt nhanh. - Cháy tán ổn định: khi ngọn lửa cháy lan tràn theo tất cả các tầng rừng, từ lớp thảm tươi đến tán rừng. Rừng sẽ bị hại hoàn toàn, tốc độ lan truyền không lớn, bình quân khoảng 0.5 km/h, có lúc có thể đạt 4 - 5 km/h.