Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Các khái niệm và mô hình dự báo gian lận BCTC 2.1 Định nghĩa gian lận Gian lận là hành động trình bày sai sự thật hoặc che giấu một thực tế nhằm gây thiệt hại cho người khác (Bryan Garner, 2004, Từ điển Black’s Law Dictionary 8th Ed. Thomson West, Hoa Kỳ). Theo từ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học -1988), gian lận là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh khóe nhằm lừa gạt người khác.
Theo nghĩa rộng gian lận là việc xuyên tạc sự thật, thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lường gạt, dối trá để thu được một lợi ích nào đó. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 240 (VSA 240) có định nghĩa về gian lận như sau: “Gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp.” Như vậy, khi đề cập đến gian lận thì khái niệm này thường bao gồm các nội dung: - Hành vi cố tình, cố ý; - Thiếu trung thực, lừa gạt; - Mang lại lợi ích bất chính, bất hợp pháp.2 Định nghĩa gian lận BCTC Theo khái niệm về gian lận đã nêu thì khái niệm về gian lận BCTC cũng mang các nội dung của khái niệm về gian lận tuy nhiên quy mô khái niệm này đề cập sẽ hẹp hơn đó là chỉ đề cập đến gian lận trong phạm vi BCTC. Một số khái niệm phổ biến bao gồm: - Gian lận trên BCTC là hành vi cố ý hoặc thiếu thận trọng dù là cố ý hay bỏ sót làm sai sót trọng yếu đến BCTC. Hành vi này có thể liên quan đến nhiều yếu tố và được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau bao gồm làm giả 6 mạo, xuyên tạc về những hồ sơ liên quan đến doanh nghiệp, cố ý bỏ sót không trình bày những thông tin quan trọng trên BCTC, áp dụng sai các nguyên tắc kế toán, chính sách (Treadway Commission, 1987).
- Gian lận báo cáo tài chính là sự trình bày sai lệch cố ý về tình trạng tài chính của doanh nghiệp được thực hiện thông qua việc làm sai lệch hoặc bỏ sót có chủ ý các khoản mục hoặc các thuyết minh trên BCTC nhằm đánh lừa người sử dụng BCTC (ACFE Fraud Examiners Manual, 2012). - Trong chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 240 (ISA 240) cũng định nghĩa gian lận báo cáo tài chính là làm thay đổi, giả mạo các chứng từ kế toán hoặc ghi chép sai, không trình bày hay cố ý bỏ sót các thông tin quan trọng trên BCTC; cố ý không áp dụng, không tuân thủ các nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán; giấu diếm hay bỏ sót không ghi chép các nghiệp vụ phát sinh, ghi chép các nghiệp vụ không xảy ra. Như vậy, gian lận BCTC có thể được xem là hành vi cố ý làm sai lệch thông tin trên các BCTC để đánh lừa người sử dụng thông tin BCTC.3 Các phương thức thực hiện gian lận phổ biến trên BCTC Theo Gerard M. Zack (2013), các hình thức gian lận BCTC phổ biến bao gồm: 2.1 Gian lận doanh thu Thông thường các gian lận liên quan đến doanh thu được thực hiện dưới các hình thức: - Dịch chuyển thời gian ghi nhận doanh thu: có nghĩa là việc ghi nhận doanh thu không đúng thời điểm phát sinh hoặc khi chưa đủ điều kiện ghi nhận doanh thu theo nguyên tắc ghi nhận doanh thu của chuẩn mực BCTC.
Ví dụ: ghi nhận doanh thu khi khách hàng đặt hàng, đã xuất hóa đơn nhưng hàng chưa ra khỏi kho; ghi nhận doanh thu dựa trên tỉ lệ phần trăm hoàn thành công việc vào ngày báo cáo khi công việc chưa hoàn tất, nghiệm thu…theo đúng các điều kiện kỹ thuật. 7 - Ghi nhận khống doanh thu: có nghĩa là làm giả các hồ sơ, giấy tờ nhằm ghi nhận việc bán hàng nhưng thực tế không xảy ra giao dịch. Ví dụ: bán hàng nội bộ; ghi nhận doanh thu khi xuất hàng ký gửi. - Phân loại sai: có nghĩa là ghi nhận các khoản thu nhập khác thành doanh thu.
Ví dụ: thu nhập từ phần chênh lệch bán trả góp được ghi nhận là doanh thu bán hàng; ghi nhận khoản giảm trừ doanh thu thành chi phí làm tăng doanh thu thuần.2 Gian lận tài sản Thông thường các gian lận liên quan đến tài sản được thực hiện dưới các hình thức: - Vốn hóa các chi phí: có nghĩa là tiến hành vốn hóa các chi phí khi các chi phí chưa đủ điều kiện hoặc chi phí phát sinh là chi phí thời kỳ, thường xuyên tiêu dùng hết trong kỳ không mang lại giá trị tương lai. Ví dụ: vốn hóa các chi phí tiền thuê; vốn hóa các chi phí pháp lý thành lập doanh nghiệp… - Định giá tài sản: có nghĩa là việc sử dụng định giá tài sản để làm thay đổi giá trị thực của tài sản, tăng khống giá trị tài sản. Ví dụ: định giá tài sản ảo khi mua tài sản từ các bên liên kết; định giá sai đối với các tài sản đầu tư tài chính… - Kế toán dựa trên giá trị hợp lý: nghĩa là sử dụng sai các phương pháp đo lường giá trị hợp lý. Ví dụ: trong phương pháp đo lường giá trị hợp lý thông qua giá thị trường, doanh nghiệp lấy giá tham khảo của các tài sản không hợp lý dẫn đến việc trình bày giá trị hợp lý của tài sản bị sai.3 Gian lận chi phí và nợ phải trả Thông thường các gian lận liên quan đến chi phí và nợ phải trả được thực hiện dưới các hình thức: - Dịch chuyển thời gian ghi nhận chi phí: nghĩa là ghi nhận chi phí không đúng thời điểm phát sinh dẫn đến tăng, giảm lợi nhuận.
Ví dụ: chi phí phát sinh trong tháng 12 nhưng hóa đơn tháng 1 năm sau mới nhận nên ghi nhận chi phí vào tháng 1 năm sau. 8 - Bỏ sót hoặc báo cáo các khoản nợ thấp hơn thực tế: nghĩa là không ghi nhận nghĩa vụ đối với các khoản nợ phải trả đã phát sinh hoặc ghi nhận không đầy đủ giá trị các khoản nợ phát sinh. Ví dụ: doanh nghiệp đã mua hàng và nhận hàng nhưng chưa ghi nhận phải trả nhà cung cấp; không ghi nhận chi phí lãi vay phải trả đối với các khoản vay có ngày giải ngân không trùng ngày khóa sổ.4 Các gian lận BCTC khác Ngoài các cách thức tiến hành gian lận BCTC như trên, các doanh nghiệp có thể tiến hành gian lận BCTC dưới các hình thức: - Hợp nhất báo cáo: nghĩa là sử dụng hợp nhất BCTC như là một công cụ để làm thay đổi các khoản mục của báo cáo tài chính hợp nhất. Ví dụ: không hợp nhất BCTC đối với các doanh nghiệp được thành lập với mục đích đặc biệt trong tập đoàn… - Công bố thông tin: có nghĩa là không công bố hoặc công bố các thông tin có liên quan đến các khoản mục trên BCTC hoặc các sự kiện có thể ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp.
Ví dụ: không công bố các thông tin sau ngày kết thúc niên độ có ảnh hưởng đến hoạt động liên tục của doanh nghiệp như: mua bán, sát nhập, kiện tụng… 2.4 Các phương thức thực hiện gian lận phổ biến trên BCTC Các nghiên cứu trên thế giới về gian lận đã đề xuất nhiều phương pháp, mô hình khác nhau để phát hiện và dự báo gian lận trên BCTC. Có thể phân nhóm các phương pháp phát hiện và dự báo gian lận BCTC như sau: 2.1 Sử dụng mô hình điều chỉnh thu nhập Điều chỉnh thu nhập là hành vi của nhà quản lý sử dụng việc ghi nhận trên cơ sở dồn tích thông qua một số tài khoản để làm thay đổi lợi nhuận sau thuế theo các mục tiêu công bố thông tin của họ. Các mô hình tính toán các khoản dồn tích lần lượt được các nhà nghiên cứu công bố như DeAngelo (1986), Jones (1991) và các nghiên cứu gần đây như Dechow & Dichev’s (2002), McNichols (2002). Mô hình Jones (1991) được sử dụng phổ biến, nghiên cứu này cho rằng các khoản dồn tích 9 tự định là kết quả của việc nhà quản lý thực hiện các chủ định của mình và thay đổi các điều kiện hoặc áp dụng các chính sách kế toán linh hoạt.
Mô hình được đề cập đến như sau: NDAt = α1(1/At-1 ) + α2(ΔREVt) + α3(PPEt) Với: - NDAt: Tổng các khoản dồn tích không tự định năm t - At-1: Tổng tài sản tại năm t-1 - REVt: Chênh lệch trong doanh thu năm t so với năm t-1 - PPEt: Tổng giá trị còn lại của tài sản cố định tại năm t Các hệ số α1, α2, α3 được ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) từ phương trình hồi quy sau: TAt = α1(1/At-1) + α2(ΔREVt) + α3(PPEt) + t 2.2 Sử dụng mô hình kỹ thuật thống kê Đây có lẽ là phương pháp được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện, khi một loạt các nghiên cứu đã kiểm tra kết quả phân biệt và dự báo gian lận BCTC của các mô hình kỹ thuật thống kê. Một số tác giả như Pearson (1995), Beneish (1999), Spathis (2002), Kaminski & cộng sự (2004) đã kiểm tra đối chiếu giữa một mẫu các công ty gian lận và một mẫu các công ty không gian lận có cùng quy mô. Dựa trên việc xác định các sai lệch khi đối chiếu 2 mẫu, các tác giả đã xây dựng các mô hình như hồi quy logistic (Pearson, Spathis), phân tích biệt số (Kaminski), mô hình probit WESML (Beneish) gồm các biến có thể nhận dạng sai lệch giữa 2 mẫu. Các biến này thường là các tỉ số tài chính.3 Dựa trên kỹ thuật khai phá dữ liệu Kỹ thuật khai phá dữ liệu (Data Mining) có khả năng phân biệt khá tốt BCTC có gian lận hay những yếu tố có liên quan đến gian lận BCTC.
Đây là một ứng dụng của kỹ thuật hiện đại trong lĩnh vực quản lý thông tin. Bên cạnh ngành nghề kế toán và kiểm toán, kỹ thuật này cũng được ứng dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác như: công nghệ, thương mại điện tử, y tế, viễn thông, tài chính… Có thể hiểu một cách đơn giản, khai phá dữ liệu là một quá trình phân tích, trích xuất 10 tri thức từ một lượng dữ liệu thô cực lớn nhằm tìm ra các mẫu có mối quan hệ mang tính hệ thống giữa các biến và hợp thức hóa các kết quả tìm được.