Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Việt Nam là một nước nông nghiệp, cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong nước, ngành nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng cũng không ngừng đi lên về mọi lĩnh vực như nghiên cứu các biện pháp thâm canh cây trồng, chọn tạo các bộ giống thích hợp cho từng vùng địa lý, chọn tạo các bộ giống thích nghi với sự thay đổi khí hậu toàn cầu. Đặc biệt trong những năm gần đấy nước ta chủ động phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, mở rộng diện tích thâm canh, tăng năng suất, tăng chất lượng cây trồng.
Cây lạc được trồng ở 100 quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam cây lạc được trồng hầu khắp các vùng sinh thái với diện tích khá lớn. Những năm gần đây lạc trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng có giá trị kinh tế cao, do vậy việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong thâm canh tăng năng suất không ngừng được quan tâm. Nhu cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng đã và đang khuyến khích đầu tư sản xuất lạc với quy mô ngày càng mở rộng.
Tuy nhiên, những năm gần đây sản xuất lạc thường bị bệnh héo rũ gây hại nặng. Trong đó bệnh thôi trắng thân lạc do nấm Slecrotium roflsii gây thiệt hại rất nặng nề, có thể dẫn đến mất trắng. Chính vì vậy nếu chỉ áp dụng các biện pháp đơn lẻ sẽ không mang lại hiệu quả phòng trừ, nhưng nếu quá lạm dụng các biện pháp hóa học lại càng tốn kém, giảm hiệu quả kinh tế đồng thời để lại nhiều ảnh hưởng xấu tới môi trường. Việc tìm ra một biện pháp thân thiện với môi trường lại có khả năng hạn chế bệnh hại là vấn đề cần thiết.
Một trong các hướng đó là dùng biện pháp sinh học, sử dụng các vi sinh vật đối kháng trong phòng trừ sinh học có thể trực tiếp hay gián tiếp tiêu diệt bệnh hại. Việc nghiên cứu khả năng kích thích sinh trưởng, phát triển và kháng bệnh của những dòng vi khuẩn có ích vùng rễ góp phần cung cấp những thông tin quan trọng bổ sung cho biện pháp sinh học phòng trừ bệnh hại hiện đang được chú ý nghiên cứu. Như vậy những nghiên cứu về cây lạc, bệnh hại lạc và những thông tin liên quan là cơ sở khoa học quan trọng để thực hiện đề tài. Vai trò, vị trí của cây lạc Lạc là cây trồng có từ lâu đời, nó là cây công nghiệp ngắn ngày, một trong những cây trồng lấy dầu quan trọng nhất thế giới, có nguồn gốc ở Nam Mỹ.
Hạt lạc là mặt hàng nông sản xuất khẩu đem lại kim ngạch cao cho nhiều nước. Theo FAO, hiện nay ở Senegal giá trị của cây lạc chiếm gần ½ thu nhập và chiếm tới 80% giá trị xuất khẩu, ở Nigeria chiếm khoảng 60% giá trị xuất khẩu của nước này. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Trong những năm gần đây, các nước có khối lượng xuất khẩu lạc nhân lớn là Trung Quốc đạt 350.000 tấn, Mỹ đạt 260.000 tấn, Ấn Độ đạt 98.000 tấn, Việt Nam đạt 92. Thị trường xuất khẩu dầu lạc đạt khối lượng 2,68 triệu tấn, trong đó 3 nước có khối lượng lớn nhất là Nigieria đạt 321.000 tấn và Xu Đăng đạt 138.
Ở Việt Nam, lạc đứng đầu trong nhóm cây lấy dầu và cây họ đậu cả về diện tích và sản lượng. Toàn bộ cây lạc đều có giá trị sử dụng, sản phẩm chính của cây lạc là hạt lạc, thành phần chứa trong hạt lạc chủ yếu là những chất béo bao gồm: các axit olêic, ninoleic, lauric, arginin, lơxin, metonin, serin, triptophan, valin, carbonhydrate, tro và một số chất khác. Trong công nghiệp, hạt lạc được dùng trong công nghiệp ép dầu. Dầu lạc làm nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm như làm bánh kẹo, làm bơ, nước chấm, sữa hộp đặc và làm nguyên liệu trong công nghiệp chế biến xà phòng, chất tẩy rửa.
Dầu lạc tinh chiết dùng trong y học và trong nghề tiểu thủ công nghiệp, trong mỹ nghệ (Đ. Đối với ngành nhiên liệu, ở Pháp trong năm 1900, tại triển lãm Paris 1900, công ty Otto theo yêu cầu của chính phủ Pháp đã chứng minh được rằng dầu lạc có thể được sử dụng như một nguồn nhiên liệu cho các động cơ diesel, điều này mở ra một triển vọng đầu tiên của dầu diesel sinh học công nghệ. Ngoài ra trong y tế thì dầu lạc được dùng để làm xà phòng trong dân dụng và y tế. Ở Mỹ theo nghiên cứu của George Wahington Carver, dầu lạc có thể dùng như một loại dầu massage để làm đẹp cho da phụ nữ (N.Thảo, 2014 trích dẫn).
Trong nông nghiệp, lạc là cây bảo vệ đất và làm tăng độ phì nhiêu của đất, nó có thể để lại cho đất một lượng đạm khá cao nên lạc là cây trồng rất lý tưởng trong công tác cải tạo bồi dưỡng đất, và có vị trí quan trọng trong chế độ luân canh với nhiều loại cây trồng khác, cũng như việc chống xói mòn, phủ xanh đất trống đồi trọc. Cũng như các loại họ cây đậu khác, rễ lạc có thể tạo ra các nốt sần do vi sinh vật cộng sinh cố định đạm hình thành đó là vi khuẩn Rhizobium vigna. Rhizobium vigna có thể tạo nốt sần ở rễ một số cây họ đậu. Nhưng với lạc thì tạo được nốt sần lớn và khả năng cố định đạm cao hơn cả.
Những nốt sần màu tím hồng được xem như là xưởng sản xuất đạm rẻ tiền, có khả năng biến đổi nguồn nitơ phân tử vốn dồi dào trong không khí thành đạm dễ sử dụng cho cây trồng. Theo ước tính, cây họ đậu có thể đưa lại 80 triệu tấn đạm mỗi năm từ nguồn nitơ không khí. Trong điều kiện thuận lợi cây lạc có thể cố định được lượng đạm tương đối lớn từ 200-260 kg N/ha (Đ. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Cây lạc không chỉ có khả năng chống xói mòn và cải tạo đất nhờ vi khuẩn nốt sần mà thời gian sinh trưởng ngắn (từ 90 – 125 ngày) nên cây lạc có thể xen canh, gối vụ với các cây trồng khác làm tăng giá trị kinh tế trên một dơn vị diện tích trồng.
Ngoài những vai trò thiết thực như vậy thì sản phẩm phụ của lạc được sử dụng khá nhiều, vì vậy đã nâng cao giá trị về nhiều mặt khi sản xuất lạc. Thân lá có tỷ lệ đường trên 24%, protein trên 10% làm thức ăn xanh cho gia súc. Vỏ lạc có 3,7% protein; 1,4% lipit; 32,3% gluxit nên có thể cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho gia súc (Đ.Dũng và cộng sự, 1997). Trong chế biến thực phẩm, người ta tách hạt khỏi vỏ quả, vỏ quả trở thành sản phẩm phụ, dùng để nghiền thành cám dùng cho chăn nuôi.
Vỏ quả lạc chiếm 25-30% trọng lượng quả. Trong chế biến thực phẩm, người ta thường tách hạt khỏi vỏ quả, vỏ quả trở thành sản phẩm phụ, dùng để nghiền thành cám dùng cho chăn nuôi. Cám vỏ quả lạc có thành phần dinh dưỡng tương dương với cám gạo dùng để nuôi lợn, gà vịt công nghiệp rất tốt (Tài liệu đào tạo nghề, 2012). Hàm lượng dinh dưỡng trong khô dầu lạc khá cao, 1 kg khô dầu lạc chứa 400 gam protein, 80 gam lipit (L.
Các nghiên cứu bổ sung khô dầu trong khẩu phần của gia súc, gia cầm đều làm tăng trọng nhanh cho lợn và tăng sản lượng trứng gà, vịt (N. Hiện nay khô dầu lạc trên thế giới đứng hàng thứ 3 trong các loại khô dầu thực vật dùng trong chăn nuôi (sau khô dầu đậu tương và bông) và đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển ngành chăn nuôi (Tài liệu đào tạo nghề, 2012). Như vậy, từ lạc người ta có thể sử dụng khô dầu, thân lá xanh và cả cám vỏ quả lạc để làm thức ăn cho gia súc, góp phần quan trọng trong việc phát triển ngành chăn nuôi. Thân lá lạc sau khi thu hoạch ngoài việc có thể làm thức ăn cho trâu bò hoặc có thể dùng làm phân bón bằng cách ủ mục với các loại phân khác hoặc cày vùi luôn xuống ruộng vì trong thân lá lạc cũng có chứa một lượng chất khoáng N, P, K.
Qua quá trình phân tích thân lá lạc cho thấy hàm lượng chất khoáng trong thân lá lạc không thua kém gì phân chuồng. Tính theo chất khô thì tỷ lệ lân và kali trong thân lá lạc bằng 2 lần phân chuồng. Do đó, thân lá lạc được xem là loại phân xanh có giá trị cả về chất lượng và khối lượng (N. Hiếu và CTV, 2003).
Trong đời sống con người, sản phẩm chính của cây lạc là hạt được sử dụng rộng rãi để làm thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp. Lạc cung cấp tỉ lệ đáng kể thành phần chất béo và protein của khẩu phần ăn hàng ngày cho con người. Hàm lượng các chất dinh dưỡng của lạc khá cân đối so với một số hạt được thể hiện qua bảng 2. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Bảng 2.
Thành phần dinh dưỡng của một số cây có dầu (%) Loại hạt Chất béo Chất đạm Chất khoáng Đường bột Lạc 40,2 – 60,7 20,0 – 33,7 1,8 – 4,6 6,0 – 22,0 Đậu tương 10,0 – 28,0 35,0 – 52,0 4,4 – 6,0 28,0 Vừng 46,0 -61,0 17,6 – 27,0 3,3 – 7,0 6,7 – 19,6 Hướng dương 40,0 – 68,8 21,0 – 34,4 3,2 – 5,4 2,0 – 6,5 Nguồn: ( Ư.Phú,1977) Lạc là nguồn bổ sung quan trọng các chất đạm, chất béo cho con người. Trên thế giới có khoảng 80% số lạc sản xuất ra được dùng dưới dạng dầu ăn, khoảng 12% được chế biến dưới dạng khác nhau như: bánh, kẹo, mứt, bơ, khoảng 6% dùng cho chăn nuôi, 1% dùng cho xuất khẩu (N. Protein của hạt lạc có tới 13 axit amin quan trọng và cần thiết cho hoạt động sống của con người (Fulton H. Đặc biệt trong hạt còn có đủ 8 axit amin không thể thay thế.
Chất khoáng trong hạt lạc ở mức thấp hơn so với đậu tương, vừng và hướng dương, hàm lượng đường bột (gluxit) trong hạt lạc khá lớn (6- 22%) cao hơn vừng (6,7-19,6%) (P.Thiều, 2002) Lạc chứa protein, chất béo và các amino acid cần thiết cho cơ thể như lecinthin, purin, alkaloid. Hàm lượng abumin trong lạc chiếm gần 30% giá trị dinh dưỡng của lạc, tương đương với sữa bò, trứng và thịt lợn nạc. Ngoài ra các yếu tố vi lượng như canxi, sắt, lưu huỳnh, các vitamin A, B, E, K và các chất như xenlulo, tinh bột cũng đều có trong hạt lạc. Chính vì vậy mà hạt lạc cung cấp chất béo và bổ sung protein cho con người (N.Hiếu và CTV, 2003).