Chương 1. Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thực trạng hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam.
Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam. Gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG 2. Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Khái niệm Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội. Hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm hiệu quả. Xét trên bình diện kinh tế học, có một số định nghĩa về hiệu quả kinh doanh như: Theo Farrell (1957) hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh thể hiện mối tương quan giữa lượng các yếu tố đầu vào và lượng đầu ra thu được. Farrell cho rằng doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả và tối đa hóa sản lượng đầu ra mà không cần sử dụng nhiều các yếu tố đầu vào.
Theo Berger và Mester (1997) xem hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại thể hiện ở mối quan hệ giữa chi phí sử dụng các nguồn lực đầu vào và doanh thu đầu ra. Theo Aubyn và cộng sự (2009), hiệu quả hoạt động kinh doanh là sự so sánh giữa nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra trong hoạt động kinh doanh. Theo tác giả Nguyễn Khắc Minh (2004) thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thể hiện mối tương quan giữa các nhân tố đầu vào hữu hạn và sản lượng dịch vụ, hàng hóa đầu ra đạt được. Khái niệm hiệu quả còn được sử dụng để đánh giá xem việc phân bổ nguồn lực của thị trường ở mức độ nào.
Như vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đạt được kết quả cao nhất với chi phí và nguồn lực thấp nhất. Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng 2. Phân tích các chỉ số tài chính Đây là phương pháp thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hiện nay, có nhiều chỉ số tài chính được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tương ứng với các mục tiêu đánh giá khác nhau mà chỉ số tài chính được sử dụng cũng khác nhau.
5 Nhiều tác giả đã sử dụng phương pháp chỉ số tài chính để đánh giá về hoạt động kinh doanh của ngân hàng như Grazyna (2008) sử dụng cùng lúc nhiều chỉ số: ROA, ROE, NIM, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay, tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay/tổng dư nợ cho vay,…Hay Mustafa (2014) sử dụng các chỉ số ROA, ROE, tổng dư nợ cho vay/tổng vốn huy động, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay, tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay/tổng dư nợ cho vay,… Nhìn chung các nhóm chỉ số tài chính được sử dụng nhiều là nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời, nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản và nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro hoạt động. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời: - Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) - Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) - Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản: - Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản (LA/TA) - Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tiền gửi (LA/TD) - Tổng dư nợ cho vay/tổng vốn huy động Nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro hoạt động: - Hệ số an toàn vốn (CAR - Capital Adequacy Ratios) - Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay - Tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay/tổng dư nợ cho vay Ngày nay, phương pháp phân tích các chỉ số tài chính vẫn được áp dụng phổ biến để đo lường hiệu quả kinh doanh vì phương pháp này tính toán tương đối đơn giản và dễ hiểu. Tuy nhiên phương pháp này cũng có các nhược điểm là mỗi chỉ tiêu tài chính phản ánh một khía cạnh trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nên để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cần phải sử dụng cùng lúc nhiều loại chỉ số, công thức khác nhau để đánh giá, rất phức tạp. Ngoài ra, chỉ tính toán hiệu quả mang tính chất thời điểm, không có sự đánh giá liên kết tương quan dữ liệu theo chuỗi lịch sử các năm.
6 Bên cạnh việc sử dụng phương pháp phân tích các chỉ số tài chính, các nhà kinh tế còn sử dụng các phương pháp phân tích hiệu quả biên để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Trong đó có phương pháp phân tích bao dữ liệu – DEA thường được sử dụng, phương pháp này sẽ giúp chúng ta thấy được tổng thể về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Phương pháp phân tích bao dữ liệu Phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA được phát triển đầu tiên bởi Charnes, Cooper và Rhodes (1978) để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực của các tổ chức công với nhiều nguồn lực đầu ra và đầu vào. Charnes, Cooper và Rhodes đã đưa ra mô hình CCR để đo lường hiệu quả kỹ thuật tổng thể của ngân hàng trên cơ sở những nguồn lực đầu ra và đầu vào: s u y r 1 r r0 Max h0 = m (1) v x i 1 i i0 Với các điều kiện: s u y r rj r 1 m ≤ 1; j = 1,2,…,n v x i 1 i ij ur, vi ≥ 0; r= 1,2,…,s; i = 1,2,…,m Trong đó: + xij là lượng đầu vào thứ i của ngân hàng j (xij ≥ 0, i =1,2,…,m ; j =1,2,…,n) + yrj là lượng đầu ra thứ r của ngân hàng j (yrj ≥ 0, r =1,2,…,s ; j =1,2,…,n) + ur là trọng số đầu ra + vi là trọng số đầu vào Để sản xuất r đầu ra thì ngân hàng thứ j sử dụng m đầu vào.
Giá trị mục tiêu của hàm sản xuất là tìm giá trị lớn nhất cho h0 để tối ưu hoá các đầu ra và tối thiểu hoá đầu vào. Tuy nhiên, bài toán (1) có nhiều nghiệm do đó việc tìm giá trị lớn 7 nhất gặp phải khó khăn. Chính vì thế, Charnes và cộng sự (1978) đưa vào ràng m buộc vi xij =1. i 1 Bài toán (1) được viết lại dưới dạng quy hoạch tuyến tính, các yếu tố (u,v) được chuyển thành (µ, v), hàm mới có dạng: s Max z0 = r yr 0 r 1 Với điều kiện: m v x =1 i 1 i ij s m y - v x ≤ 0; j = 1,2,…,n r 1 r rj i 1 i ij µr, vi ≥ 0; r = 1,2,…,s; i = 1,2,…,m Sử dụng tính chất đối ngẫu của bài toán quy hoạch tuyến tính, ta chuyển sang bài toán đối ngẫu để tìm các giá trị tối ưu.
Hàm đối ngẫu của hàm tuyến tính ban đầu có dạng: Min z0 = θ0 Với các điều kiện s y ≥ ir0; r= 1,2,…,s j 1 j rj s x ≥ θ0xi0; i = 1,2,…,m j 1 j ij λj ≥ 0 ; j = 1,2,…,n Trong đó: + Giá trị θ0 thể hiện mức hiệu quả của ngân hàng 0; + λj là gồm tập hợp ( λ1,…., λn) thể hiện mối quan hệ giữa các doanh nghiệp được khảo sát, (nếu u,v là trọng số của các biến đầu vào và biến đầu ra thì λ là trọng số của các đơn vị ra quyết định DMU (Decision making unit) với nhau; + xi0, yr0 lần lượt là các đầu vào và đầu ra của ngân hàng 0; Nếu ngân hàng đạt hiệu quả tối ưu thì θ0 =1. Nếu ngân hàng không đạt hiệu quả thì θ0 < 1, ngân hàng có thể tiết giảm một lượng chi phí đầu vào thừa hoặc mở 8 rộng quy mô đầu ra còn thiếu để đạt mức tối ưu. Để đo lường chi phí thừa đầu vào hoặc quy mô đầu ra còn thiếu của ngân hàng thì Banker, Charnes và Cooper (1984) đã phát triển thuật toán: m s Min θ0 - Ɛ si si i 1 i 1 Với điều kiện: m y s y j 1 j ri r r0 ; r = 1,2,…s m y s 0 x ; i = 1,2,…s j 1 j ri r 0 i0 λj, s-i, s+i ≥ 0 ; j = 1,2,…,n + si-, si+ lần lượt là phần thừa đầu vào và phần thiếu đầu ra. + Khi ngân hàng đạt hiệu quả tối ưu thì θ =1 và si- = si+= 0 Mô hình CCR dựa trên giả định hiệu suất không đổi theo quy mô (Hay còn gọi là mô hình DEACRS).
Tuy nhiên nhiều ngân hàng trên thực tế lại có hiệu suất thay đổi tuỳ thuộc vào quy mô hoạt động. Do đó Banker, Charnes và Cooper (1984) đề xuất mở rộng mô hình thành mô hình DEA với hiệu quả thay đổi theo n quy mô (Hay còn gọi là mô hình DEAVRS) với giả định j =1. Khi đó, ta có j 1 hàm tuyến tính: m s Min θ0 - Ɛ si si i 1 i 1 Với điều kiện: n =1 j 1 j m y s y j 1 j ri r r0 ; r = 1,2,…s m y s 0 x ; i = 1,2,…s j 1 j ri r 0 i0 λj, s-i, s+i ≥ 0 ; j = 1,2,…,n 9 Sau khi loại trừ vấn đề quy mô tối ưu của mô hình hiệu suất không đổi theo quy mô, giá trị θ0 chính là hiệu quả kỹ thuật của mô hình DEAVRS. Hiệu quả kỹ thuật được tính theo mô hình DEAVRS được gọi là hiệu quả kỹ thuật thuần (PE).
Hiệu quả kỹ thuật (TE) của ngân hàng tính theo mô hình DEACRS được tách thành hai phần: hiệu quả kỹ thuật thuần (PE) và hiệu quả quy mô (SE). Hay TE bằng tích số của PE và SE. Do vậy, khi thực hiện tính toán hiệu quả hoạt động của ngân hàng theo cả hai mô hình DEACRS và DEAVRS trên cùng một bộ dữ liệu, chúng ta sẽ tìm được TE và PE. Nếu chỉ số SE của ngân hàng bằng 1 thì ngân hàng đạt được hiệu quả quy mô.
Ngược lại, chỉ số SE lớn hơn 1 thì ngân hàng có hiệu quả tăng theo quy mô, SE nhỏ hơn 1 thì ngân hàng có hiệu quả giảm theo quy mô.