MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của công việc sinh viên trực tiếp thực hiện Rừng được xem là lá phổi xanh của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta, ngoài ra rừng còn đem lại lợi ích vô cùng to lớn về kinh tế. Tuy nhiên, diện tích rừng ngày càng suy giảm nghiêm trọng kéo theo thiên tai, hạn hán, lũ lụt xảy ra với tần xuất và cường độ ngày càng tăng. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một yêu cầu, nhiệm vụ không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Đó là một thách thức vô cùng to lớn đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức, các cấp, các ngành trong cả nước nhận thức được vai trò và nhiệm vụ của mình trong công tác phục hồi và phát triển rừng. Những năm trở lại đây, công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, thể hiện ở nhiều Chương trình, Dự án đã được đầu tư và các cơ chế chính sách đã được ban hành, tạo động lực để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Thạch An là huyện miền núi, vùng cao biên giới nằm ở phía Đông Nam tỉnh Cao Bằng, có diện tích tự nhiên là 690,45 km2, cách trung tâm tỉnh 39 km; Phía Đông giáp với huyện Long Châu (tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc); Phía Tây giáp với huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn; Phía Nam giáp với huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn; Phía Bắc giáp với Thành phố Cao Bằng và huyện Hoà An tỉnh Cao Bằng. Có 16 đơn vị hành chính gồm 15 xã và 01 Thị trấn, trong đó có 13 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn (vùng 3), 03 xã, thị trấn thuộc vùng 2.
Huyện có 01 xã biên giới là xã Đức Long tiếp giáp với huyện Long Châu, tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc, có đường biên giới dài 5,2 Km và 01 lối mở (cửa khẩu tiểu ngạch Nà Lạn - Đức Long) đã và đang được đầu tư xây dựng để giao thương hàng hoá với huyện Long Châu, tỉnh Quảng Tây - h 2 Trung Quốc. lợi ích từ kinh tế rừng được khẳng định, công tác bảo vệ, phát triển rừng ngày càng được xã hội hóa. Để thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ rừng, Ngày 04/10/2007 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số 83/2007/QĐ-BNN, quy định về nhiệm vụ công chức Kiểm lâm địa bàn xã (thay thế Quyết định số 105/2000/QĐ-BNN ngày 17/10/2000), với phương châm "Kiểm lâm bám dân, bám rừng, bám chính quyền cơ sở” để tham mưu giúp chính quyền cơ sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp theo Nghị định số 23/NĐ-CP ngày 23/3/2006 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật bảo vệ và phát triển rừng. Mục tiêu nhằm nâng cao năng lực Kiểm lâm địa bàn xã, làm thay đổi căn bản công tác bảo vệ rừng, chuyển hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong khâu lưu thông sang tổ chức bảo vệ rừng tận gốc, giám sát nơi tiêu thụ, chế biến lâm sản; nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng; nâng cao nhận thức của nhân dân để tham gia bảo vệ và phát triển rừng, giúp người làm kinh tế rừng yên tâm đầu tư góp phần làm tăng độ che phủ của rừng.[1] Kiểm lâm địa bàn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển rừng ,để bổ trợ cho những kiến thức đã học tại trường và để hiểu rõ hơn công tác quản lý bảo vệ rừng của kiểm lâm địa bàn nên tôi đã chọn đề tài“Công tác quản lý của kiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ QLBVR tại hạt kiểm lâm Thạch An Cao bằng ”.
Mục tiêu và yêu cầu công việc sinh viên trực tiếp thực hiện - Xác định được quá trình tổ chức và kết quả tuần tra và xử lý các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ phát triển rừng - Đánh giá được thực trạng và vai trò hoạt động của Kiểm lâm địa bàn huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng - Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Kiểm lâm địa bàn góp phần phát triển tài nguyên rừng. h 3 - Rút ra một số bài học kinh nghiệm trong tổ chức tuần tra và xử lý các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ phát triển rừng và giải pháp tổ chức thực hiện công tác kiểm lâm địa bàn tại khu vực hạt Kiểm lâm h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan tài liệu về vấn đề thực hiện 2. Quá trình hình thành và phát triển lực lượng kiểm lâm Nhận thức rõ vai trò và ý nghĩa quan trọng của rừng, ngày 11/9/1972, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng và được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa công bố theo sắc lệnh số 147/LCT.
Tại điều 16 của Pháp lệnh quy định “nay thành lập lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng gọi là Kiểm lâm nhân dân”. Lực lượng Kiểm lâm Việt Nam chính thức ra đời từ đây. Do yêu cầu nhiệm vụ công tác của từng thời kỳ, lực lượng Kiểm lâm Việt Nam đã có nhiều lần thay đổi về tổ chức: Giai đoạn 1 (từ 1973 - 1979): Lực lượng Kiểm lâm nhân dân được tổ chức theo Nghị định số 101/CP, ngày 21/5/1973 của Hội đồng Chính phủ. Giai đoạn này lực lượng Kiểm lâm nhân dân được tổ chức thành hệ thống thống nhất trong ngành Lâm nghiệp từ Trung ương đến cấp huyện, đặt dưới sự chỉ đạo của Tổng cục Lâm nghiệp (từ tháng 5/1973 đến tháng 7/1976) và Bộ Lâm nghiệp (từ tháng 7/1976 đến 1979) Giai đoạn 2 (từ 1980 – 5/1994): Lực lượng Kiểm lâm được tổ chức theo quy định của Nghị định số 368/CP, ngày 08/10/1979 của Hội đồng Chính phủ, đây là giai đoạn tổ chức kiểm lâm không thống nhất và không thành hệ thống từ Trung ương đến cấp huyện và không biệt lập với các đơn vị kinh doanh lâm nghiệp như Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng đã quy định.
Giai đoạn 3 (từ tháng 5/1994 đến tháng 10/2006): Lực lượng Kiểm lâm được tổ chức theo Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 và những quy định của Nghị định số 39/CP, ngày 18/5/1994 của Chính phủ. Tên gọi của lực lượng Kiểm lâm nhân dân được đổi thành lực lượng Kiểm lâm, Chi cục Kiểm lâm thuộc UBND cấp tỉnh (thành phố) trực thuộc Trung ương quản lý. h 5 Giai đoạn 4 (từ tháng 10/2006 đến nay): Lực lượng Kiểm lâm được tổ chức theo Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 của Chính phủ, Chi cục Kiểm lâm trực thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT quản lý.2 Các tài liệu về lĩnh vực thực hiện trong nước Công việc của kiểm lâm địa bàn rất quan trọng trong việc bảo tồn sự đa dạng của động, thực vật tại địa phương. Xây dựng các phương án, kế hoạch quản lý và bảo vệ rừng phù hợp, kết hợp hướng dẫn và tuyên truyền người dân trồng và chăm sóc cây để phủ xanh đồi núi trọc… Vai trò của kiểm lâm địa bàn là Vận động các hộ gia đình sống trong và gần rừng ký cam kết bảo vệ rừng; xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng ở cộng đồng dân cư.
Nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền cơ sở và sự tham gia của các ngành, các tổ chức xã hội vào bảo vệ rừng, hỗ trợ nâng cao đời sống người dân. Thực hiện tốt công tác theo dõi cập nhật diển biến tài nguyên rừng, kiểm tra giám sát các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến lâm sản; hướng dẫn, kiểm tra các tổ chức hộ gia đình và cá nhân trong việc gây nuôi động vật hoang dã theo qui định. Kiểm lâm địa bàn có điểm mạnh là thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, nắm bắt được các đối tượng thường xuyên phá rừng để vận động ký cam kết không vi phạm hoặc phân loại đối tượng để tham mưu cho chính quyền có biện pháp xử lý phù hợp. Kiểm lâm địa bàn đã áp dụng nhiều biện pháp như phối hợp tổ chức các đợt tuần tra, truy quét ở các điểm phá rừng, bao chiếm đất rừng trái phép, ngăn chặn chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp ngoài quy hoạch, đề nghị cấp có thẩm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng.
Theo công bố hiện trạng rừng năm 2016 của Bộ NN&PTNT, hiện cả nước còn hơn 10 triệu ha rừng tự nhiên. Ngày 16/5, Bộ NN&PTNT có văn bản số 1819 công bố hiện trạng và số liệu diện tích rừng cả nước tính đến thời h 6 điểm cuối năm 2016. Tính đến ngày 31/12/2016, cả nước có 14. Trong đó: diện tích rừng tự nhiên là 10.141 ha; rừng trồng: 4.
Diện tích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ cả nước là 13.934 ha – độ che phủ tương ứng là 41,19%. Như vậy, so với năm 2015, diện tích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ cả nước đã tăng hơn 110. Mặc dù diện tích rừng được ghi nhận có tăng lên nhưng chất lượng rừng lại là vấn đề cần được bàn tới. Năm 1945, diện tích rừng cả nước được ghi nhận là 14,3 triệu ha, thì đến năm 1995, do rừng tự nhiên bị lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thác quá mức, nên diện tích chỉ còn 8,25 triệu ha.
Tính riêng trong thời gian 20 năm từ năm 1975 đến năm 1995, diện tích rừng tự nhiên của cả nước giảm 2,8 triệu ha. Theo báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011-2015 của Bộ TN&MT: “Điều đáng lo ngại là chất lượng rừng tự nhiên tiếp tục giảm. Tuy độ che phủ rừng có xu hướng tăng nhưng chủ yếu là rừng trồng với mức đa dạng sinh học thấp, trong khi rừng tự nhiên với mức đa dạng sinh học cao nhưng tỷ lệ bảo tồn còn rất thấp. Trong giai đoạn 1990 – 2013, diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng đều tăng lên, tuy nhiên tốc độ tăng hàng năm của diện tích rừng trồng cao hơn khoảng 6 lần tốc độ phục hồi của rừng tự nhiên”.