Chương 1. Cơ sở lý luận và tổng quan về cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long (26 trang) Chương 2. Quá trình chuyển cư và những biến đổi văn hóa (30 trang) Chương 3. Những thách thức trong quá trình hội nhập và phát triển (17 trang) 10 Tài liu , Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc, Giáo trình eBook, Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc17 of 107.
Header Page 18 of 107. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƢ DÂN VẠN CHÀI HẠ LONG 1. Di dân và tái định cƣ 1. Khái niệm Di dân là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính quy luật, một cấu thành gắn với sự phát triển [6, tr.13], một hiện tượng nhân khẩu học chịu tác động tổng hòa của nhiều yếu tố khác nhau như tự nhiên, xã hội, kinh tế, chính trị, tôn giáo, tâm lý.
Hiện tượng này tạo ra những tác động tới sự phân bố dân cư, phân bố lại lao động và các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội. Bởi vậy, đây là một chủ đề được quan tâm nghiên cứu và chú trọng trong hoạch định chính sách, đưa đến việc có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau. Vào năm 1958, Liên Hợp Quốc định nghĩa: “Di dân là sự di chuyển trong không gian của con người giữa một đơn vị địa lý hành chính này vào một đơn vị hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng di dân xác định”. Cách giải thích này chưa chú ý đến vấn đề thời gian di dân, bởi vậy vào năm 1973 Liên Hợp Quốc đã đưa ra khái niệm di dân dài hạn và di dân ngắn hạn.
Di dân dài hạn là người di dân đến nơi ở mới từ 12 tháng trở lên, ngược lại di dân ngắn hạn dưới 12 tháng [11, tr. Theo Đặng Nguyên Anh, di dân theo nghĩa rộng là “sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong không gian và thời gian nhất định, kèm theo thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn. Với khái niệm này, di dân đồng nhất với sự di động dân cư”; di dân theo nghĩa hẹp là “sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới, trong một khoảng thời gian nhất định. Khái niệm này khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyển và thiết lập nơi cư trú mới” [6, tr.
Trong công trình Di dân tự do đến Hà Nội, thực trạng và giải pháp quản lí, Hoàng Văn Chức cho rằng: di dân là một hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người với những thay đổi của tự nhiên, xã hội và sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội giữa các vùng, các quốc gia trên thế giới. Di dân làm thay đổi bức tranh phân bố dân cư trên trái đất, nó ảnh hưởng 11 Tài liu , Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc, Giáo trình eBook, Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc18 of 107. Header Page 19 of 107. tới sự phân bố loại lao động theo lãnh thổ và ảnh hưởng đến hàng loạt các vấn đề kinh tế - xã hội, cũng như môi trường [11, tr.
Tác giả cũng đưa ra các cách hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp của thuật ngữ “di dân”. Theo đó, với nghĩa rộng: di dân được hiểu là sự chuyển động cơ học của dân cư. Như vậy, bất cứ sự chuyển động nào của con người trong không gian gắn với sự thay đổi theo vị trí lãnh thổ cũng được coi là di dân. Theo nghĩa hẹp: Di dân được hiểu là sự chuyển dịch của dân cư theo lãnh thổ, sự phân bố lại dân cư.
Tuy nhiên, không phải bất kỳ sự chuyển dịch nào của dân cư cũng là di dân, mà di dân là sự di chuyển của dân cư ra khỏi biên giới đất nước hay ra khỏi lãnh thổ hành chính mà họ đang cư trú, gắn với việc thay đổi chỗ ở của họ [11, tr. Còn theo Nguyễn Đình Hòe, di cư ( hay di dân) là sự chuyển đổi chỗ ở vĩnh viễn. Đối với nơi ở cũ, người di cư được gọi là người xuất cư (out – migrant) còn nơi đến gọi họ là dân nhập cư (in – migrant). Tác giả cũng khẳng định rằng, di dân là một quá trình khách quan, gây biến động lớn về xã hội và tác động đáng kể đến tài nguyên và môi trường, đặc biệt là nơi tiếp nhận người di cư [21, tr.
Nhìn chung, di dân gắn với việc con người chuyển khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi xác định với một khoảng cách giữa hai không gian gọi là độ dài di chuyển và phải thay đổi nơi cư trú, thiết lập nơi cư trú mới. Dấu hiệu rõ ràng nhất của di dân là sự dịch chuyển dân số: làm tăng dân số cơ học ở nơi đến và làm giảm dân số cơ học ở nơi đi. Cũng cần chú ý đến vấn đề thời gian của di dân. Tùy theo từng loại hình di dân mà thời gian có thể là vài tuần, vài tháng thậm chí là vĩnh viễn.
Ngoài ra có thể nhận biết di dân qua một đặc điểm nữa đó là sự di chuyển nơi ở và thay đổi nơi làm việc, nghề nghiệp, các hoạt động sinh sống hằng ngày và thay đổi các mối quan hệ xã hội. Hiện tượng di dân xuất phát từ những lực đẩy từ vùng gốc nơi đang sinh sống khiến cư dân phải chuyển cư, từ lực hút bởi sự hấp dẫn của nơi đến hoặc do cả hai yếu tố này. Tuy vậy, có trường hợp thuần túy chỉ từ lực đẩy tại nơi đi, đó là những cuộc di dân có yếu tố “cưỡng bức”, chẳng hạn như từ chính sách của chính quyền như trường hợp di dân khỏi lòng hồ thủy điện. Về phân loại loại hình di dân, có thể dựa vào các tiêu chí khác nhau, tùy mục đích và hướng tiếp cận của nhà nghiên cứu hoặc nhà hoạch định chính sách.
12 Tài liu , Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc, Giáo trình eBook, Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc19 of 107. Header Page 20 of 107. Xét theo tiêu chí tổ chức, di dân có hai loại: + Di dân có tổ chức: là hình thái dịch chuyển dân cư theo sự quản lý điều chỉnh, tổ chức, thay đổi cấu trúc dân số, nhằm phục vụ những mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa của Nhà nước. Nói chung, loại hình di dân này gắn với chính sách của chính quyền, thậm chí mang tính chất “cưỡng bức”.
Ví dụ như di dân phục vụ dự án thủy điện Sơn La, ban đầu đã gặp phải nhiều sự phản đối của cộng đồng tộc người vì gây tác động tới mức xáo trộn đời sống kinh tế, văn hóa tộc người. Dẫn theo Mitchell (1985), Hoàng Văn Chức giải thích việc di dân của con người dựa vào: các yếu tố liên quan đến môi trường tự nhiên như năng suất đất đai, khí hậu, điều kiện môi trường; các yếu tố về kinh tế như các cơ hội việc làm, sự tương quan giàu - nghèo; các yếu tố cản trở hay thúc đẩy người dân ra đi và các yếu tố chính trị như vấn đề pháp luật khuyến khích hay bắt buộc họ phải di chuyển đến một nơi nhất định hay bất cứ đâu [11, tr. + Di dân tự do: các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng di cư theo ý muốn chủ quan của mình. Trường hợp này có thể gặp ở các thành phố lớn, nơi người di cư tự do đến, đi để thực hiện các mục đích kinh tế, giáo dục.
Loại hình di dân tự do này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm phân tích trong bối cảnh chênh lệch về mức sống và các điều kiện kinh tế - xã hội giữa nông thôn – đô thị để chỉ ra những tương tác nông thôn – đô thị và những tác động đến những vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội Nếu xét theo không gian, có thể chia di dân thành các loại hình: Di dân nông thôn – nông thôn; Di dân nông thôn – đô thị; Di dân đô thị - đô thị; Di dân đô thị - nông thôn. Trong đó phổ biến là loại hình Di dân nông thôn - đô thị;. Hiện nay, có nhiều người dân từ các vùng nông thôn chuyển lên các thành phố lớn, các trung tâm để tìm kiếm việc làm, gây dựng cuộc sống. Nếu xét tiêu chí về tính chất, có thể chia thành di dân tự nguyện và di dân ép buộc.
Di dân tự nguyện là trường hợp người di cư được thực hiện việc di chuyển theo đúng nguyện vọng của mình. Di dân ép buộc hay cưỡng bức là loại hình di dân trái với ý muốn, nguyện vọng của người di cư. Có thể do sức ép về chính sách hoặc các sức ép khác để buộc cá nhân, gia đình, nhóm người, cộng đồng phải rời bỏ nơi cư trú của mình. 13 Tài liu , Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc, Giáo trình eBook, Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc20 of 107.
Header Page 21 of 107. Ngoài ra, xét theo tiêu chí thời gian, di dân có thể được phân chia thành các bộ phận sau: + Di dân “con lắc”: là kiểu di cư luân chuyển nông thôn – đô thị mà người di cư không nhất thiết phải thay đổi chỗ ở. Loại hình di dân này xuất hiện ngày càng nhiều bởi quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa. Quá trình này một mặt mở rộng ảnh hưởng của tính đô thị và làm thay đổi diện mạo vật chất của những làng quê ven đô, mặt khác tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp cho nông dân.
Những người nông dân này vẫn ở lại làng quê nhưng thường xuyên di chuyển giữa nông thôn – đô thị. Mật độ dân số cao ở vùng đồng bằng và chênh lệch đô thị - nông thôn là nguyên nhân cơ bản của các hiện tượng này + Di dân tạm thời: người di cư có thay đổi chỗ ở, chỗ làm việc nhưng mang tính chất tạm thời, có thể di chuyển chỗ khác hoặc quay lại nơi ở ban đầu. + Di dân theo mùa vụ: người di cư tranh thủ mùa nông nhàn để đến các đô thị hoặc các địa phương có các điểm du lịch nổi tiếng hoặc lễ hội lớn để tranh thủ tìm kiếm công việc, cải thiện kinh tế. + Di dân lâu dài: Sự thay đổi nơi cư trú này mang tính chất ổn định, lâu dài.
Họ chỉ trở về nơi xuất cư để thăm viếng nhưng không có ý định quay trở lại quê gốc sống nữa [27].