Luận văn thạc sĩ: Cơ chế phát triển sạch và xuất khẩu CERs Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu việc thực hiện điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu tại Việt Nam, hoàn thiện quy định pháp luật về cơ chế phát triển sạch CDM.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2012

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cơ chế phát triển sạch và giảm phát thải Tổng quan toàn diện

Cơ chế phát triển sạch (CDM – Clean Development Mechanism) là một trong ba cơ chế linh hoạt được thiết lập theo Nghị định thư Kyoto nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển thực hiện các dự án giảm phát thải khí nhà kính (GHG) đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững. Cơ chế này cho phép các quốc gia phát triển đầu tư vào các dự án thân thiện môi trường tại các nước đang phát triển để nhận được chứng nhận giảm phát thải (CERs – Certified Emission Reductions), có thể dùng để đáp ứng nghĩa vụ giảm phát thải của họ. Tại Việt Nam, việc tham gia CDM không chỉ giúp tiếp cận nguồn vốn và công nghệ sạch mà còn đóng góp vào nỗ lực toàn cầu chống biến đổi khí hậu. Theo Phạm Văn Hạo (2012), CDM là công cụ pháp lý – kinh tế then chốt trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu mà Việt Nam đã ký kết. Tuy nhiên, khung pháp lý trong nước vẫn chưa đủ mạnh để khai thác tối đa tiềm năng của cơ chế này, đặc biệt trong khâu xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính.

1.1. Khái niệm cơ chế phát triển sạch CDM và vai trò pháp lý

CDM được định nghĩa trong Điều 12 của Nghị định thư Kyoto như một cơ chế hợp tác giữa các nước Annex I và phi-Annex I. Mục tiêu là đạt được giảm phát thải khí nhà kính với chi phí thấp hơn, đồng thời hỗ trợ phát triển bền vững tại các nước đang phát triển. Mỗi đơn vị CER tương đương một tấn CO₂ được giảm. Cơ chế này không chỉ mang tính kinh tế mà còn có nền tảng pháp lý quốc tế vững chắc, yêu cầu các dự án phải được ủy ban CDM phê duyệt và tuân thủ các tiêu chuẩn về cộng đồng, môi trường và phát triển.

1.2. Chứng nhận giảm phát thải và quy trình xuất khẩu CERs

Quy trình xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính bao gồm: thiết kế dự án, thẩm định bởi tổ chức bên thứ ba, đăng ký với Ủy ban CDM, giám sát phát thải và cấp CERs. Việt Nam đã triển khai nhiều dự án CDM trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, xử lý chất thải và tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, theo UNEP (2009), rào cản pháp lý và thiếu cơ chế hỗ trợ trong nước khiến việc xuất khẩu CERs chưa hiệu quả. Việc hoàn thiện khung pháp lý quốc gia là điều kiện tiên quyết để tham gia sâu hơn vào thị trường carbon toàn cầu.

II. Thách thức pháp lý trong thực hiện cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam

Việt Nam đã tham gia đầy đủ các điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu, bao gồm UNFCCC và Nghị định thư Kyoto. Tuy nhiên, việc chuyển hóa cam kết quốc tế thành quy định pháp luật trong nước còn nhiều bất cập. Theo luận văn của Phạm Văn Hạo (2012), hệ thống pháp luật hiện hành thiếu các quy định cụ thể về thẩm định dự án CDM, phân chia lợi ích từ CERs, và cơ chế giám sát sau khi dự án được triển khai. Điều này làm giảm sự tin cậy của nhà đầu tư quốc tế và cản trở xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính. Ngoài ra, sự chồng chéo giữa các cơ quan quản lý như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương và Bộ Kế hoạch và Đầu tư gây khó khăn trong phối hợp. Việc thiếu hướng dẫn chi tiết về thuế, hải quan và thanh toán quốc tế cho CERs cũng là rào cản lớn. Những thách thức này đòi hỏi một chiến lược pháp lý đồng bộ, minh bạch và phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

2.1. Khoảng trống pháp lý trong quản lý dự án CDM

Hiện nay, Việt Nam chưa có luật chuyên biệt điều chỉnh CDM. Các quy định rải rác trong Luật Bảo vệ môi trường, Nghị định 122/2021/NĐ-CP và Thông tư hướng dẫn chưa đủ để tạo hành lang pháp lý toàn diện. Đặc biệt, thiếu quy định về quyền sở hữu CERs, nghĩa vụ báo cáo và cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến giao dịch carbon. Điều này khiến các bên tham gia dự án CDM gặp rủi ro pháp lý cao.

2.2. Rào cản trong xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải

Mặc dù Việt Nam có tiềm năng lớn về năng lượng sinh khối và thủy điện nhỏ, nhưng số lượng dự án CDM được đăng ký còn khiêm tốn so với Trung Quốc hay Ấn Độ. Nguyên nhân chính là do thiếu cơ chế hỗ trợ xuất khẩu CERs, bao gồm: không có hướng dẫn về hợp đồng mua bán CERs, thiếu cơ sở dữ liệu quốc gia về carbon, và chưa có sàn giao dịch CERs trong nước. Điều này làm giảm khả năng tiếp cận thị trường quốc tế của các dự án Việt Nam.

III. Phương pháp hoàn thiện pháp luật về cơ chế phát triển sạch

Để khai thác hiệu quả cơ chế phát triển sạch, Việt Nam cần xây dựng một khung pháp lý đồng bộ, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế. Một trong những phương pháp then chốt là ban hành văn bản pháp luật chuyên biệt điều chỉnh CDM và giảm phát thải khí nhà kính. Văn bản này cần quy định rõ: tiêu chí phê duyệt dự án, vai trò của các cơ quan nhà nước, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, cơ chế phân chia CERs, và quy trình xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính. Ngoài ra, cần thiết lập cơ quan đầu mối quốc gia về CDM để điều phối hoạt động liên ngành. Kinh nghiệm từ Brazil và Ấn Độ cho thấy, việc có cơ quan chuyên trách giúp tăng tốc độ phê duyệt và thu hút đầu tư. Đồng thời, cần lồng ghép CDM vào chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

3.1. Xây dựng luật chuyên biệt về cơ chế phát triển sạch

Luật chuyên biệt sẽ cung cấp cơ sở pháp lý vững chắc cho việc triển khai CDM, giảm rủi ro pháp lý và tăng tính minh bạch. Nội dung luật cần bao gồm: định nghĩa CDM, tiêu chuẩn dự án, quy trình cấp CERs, cơ chế giám sát, và xử lý vi phạm. Việc này phù hợp với khuyến nghị của UNEP (2009) về việc các nước đang phát triển nên có khung pháp lý rõ ràng để thu hút đầu tư carbon.

3.2. Thiết lập cơ quan đầu mối quốc gia về CDM

Cơ quan đầu mối sẽ đóng vai trò trung tâm trong việc thẩm định, phê duyệt và theo dõi dự án CDM. Mô hình này đã thành công tại Ấn Độ với National CDM Authority. Tại Việt Nam, việc giao nhiệm vụ này cho một cơ quan duy nhất sẽ tránh chồng chéo, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao hiệu quả quản lý chứng nhận giảm phát thải.

IV. Ứng dụng thực tiễn cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam

Tính đến năm 2012, Việt Nam đã đăng ký hơn 200 dự án CDM với Ủy ban CDM quốc tế, chủ yếu trong lĩnh vực năng lượng tái tạo (gió, sinh khối, thủy điện nhỏ) và xử lý khí thải từ bãi rác. Các dự án này không chỉ giúp giảm phát thải khí nhà kính mà còn tạo ra nguồn thu từ xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính. Ví dụ, dự án thủy điện nhỏ ở Lào Cai đã bán thành công hàng trăm nghìn CERs cho các đối tác châu Âu. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng do thiếu hỗ trợ pháp lý và kỹ thuật. Nhiều dự án gặp khó trong giai đoạn thẩm định và đăng ký vì thiếu chuyên gia trong nước. Theo Phạm Văn Hạo (2012), cần tăng cường năng lực cho các tổ chức tư vấn trong nước và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về carbon để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận CDM một cách hiệu quả.

4.1. Các dự án CDM tiêu biểu và bài học kinh nghiệm

Dự án xử lý khí bãi rác Nam Bình Dương (TP.HCM) và dự án sinh khối tại Gia Lai là những ví dụ thành công. Chúng cho thấy tiềm năng lớn của Việt Nam trong việc giảm phát thải khí nhà kính thông qua CDM. Tuy nhiên, bài học rút ra là cần có hỗ trợ kỹ thuật và pháp lý từ sớm để tránh thất bại trong giai đoạn đăng ký.

4.2. Hiệu quả kinh tế từ xuất khẩu CERs

Mỗi CER có giá trị từ 5–15 USD trên thị trường quốc tế. Với hàng triệu tấn CO₂ tiềm năng giảm mỗi năm, Việt Nam có thể thu về hàng trăm triệu USD nếu khai thác hiệu quả. Tuy nhiên, do thiếu cơ chế xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính, nhiều dự án chưa bán được CERs hoặc bán với giá thấp.

V. Tương lai của cơ chế phát triển sạch và giảm phát thải tại Việt Nam

Sau khi Nghị định thư Kyoto kết thúc giai đoạn đầu tiên, CDM vẫn giữ vai trò quan trọng trong Thỏa thuận Paris, đặc biệt thông qua cơ chế thị trường quốc tế theo Điều 6. Việt Nam cần nhanh chóng điều chỉnh khung pháp lý để thích ứng với bối cảnh mới. Cơ chế phát triển sạch sẽ tiếp tục là công cụ chiến lược để đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Để làm được điều này, cần tích hợp CDM vào chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, xây dựng thị trường carbon trong nước, và tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác quốc tế. Đồng thời, việc đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu về giảm phát thải khí nhà kính và pháp luật môi trường quốc tế là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực nội tại.

5.1. CDM trong bối cảnh Thỏa thuận Paris và Điều 6

Điều 6 của Thỏa thuận Paris mở ra cơ hội mới cho các cơ chế thị trường, trong đó CDM có thể được chuyển đổi thành cơ chế mới. Việt Nam cần chủ động tham gia đàm phán và xây dựng quy định phù hợp để không bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính trong giai đoạn mới.

5.2. Hướng tới thị trường carbon trong nước

Việc xây dựng thị trường carbon nội địa sẽ tạo nền tảng cho CDM phát triển bền vững. Đây là xu hướng tất yếu mà các nước ASEAN như Thái Lan và Indonesia đang theo đuổi. Việt Nam cần sớm ban hành lộ trình thí điểm giao dịch carbon để chuẩn bị cho tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn việt nam với việc thực hiện điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu hướng tới hoàn thiện các quy định pháp luật về cơ chế phát triển sạch và xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 09 Chuong 1: TONG QUAN VE BIEN DOL KHi HAU 15 VA CAC DIEU UGC QUỐC TE CO LIEN QUAN 'Tình hình biến đỗi biến đổi khí hậu 15 Tinh hình biến đổi khí hậu Trái Đất 5 Tinh hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam 30 Các khái niệm công cụ 34 Cứ chế phát triển sạch. Chứng nhận giám phảt thải khí nhà kính 36 Xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khi nhà kính 37 Các công ước quốc tễ về biến đổi khí hậu Công ước Viên về hảo vệ tầng ôzõn và Nghị định thư 40 Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn UNFCCC va Nghi dinh thư Kyoto Chuong 2: KINH NGHIEM CUA MOT 86 QUOC 63 GIA TRONG THỰC IIỆN CƠ CI PIIAT TRIEN SẠCH VÀ THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ VẺ BIẾN DỐI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc xây dựng 63 khung pháp lý và triển khai các dự án theo cơ chế phát thị trường mua, bán CERs hoàn chỉnh. Vi những lý do trên, vin dé "Viét Nam voi vide thực hiện điều ước quốc tế về biên déi khí hậu, hưởng tới haàn thiện các quy định pháp luật về cơ chế phút triển sạch và xuất khẩu chứng nhận giảm phát thai khí nhà kính" dược học viên lựa chọn làm đề tài của luận văn thạc sĩ luật học của minh. Tình hình nghiên cứu để tài Ứng phó với biển dỗi khí hậu là vẫn để cấp bách má tất cá các quốc gia trên thế giới đều phải cùng chung sức thực hiện.

Vì vậy, có nhiễu tài liệu nghiên cứu về vấn dé nảy, có thể kể đến một số tài liệu nghiên cứu về khía cạnh pháp lý liên quan dến biến đổi khí hậu như: 7) Lưu Ngọc lế Tâm (2003), Việc thực thủ các cam kết quốc lễ của Liệt Nam về biển đối khi hậu, Tuan vin Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Tuật Hà Nội, 2) Chu Thị Trinh (2009), Những vẫn đề pháp lý về thích nghì và ứng phỏ với biến đổi khi hậu tại Piệt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 3) UNEP (2002), Cơ chế phát triển sạch CM, Hà Nội, 4) Ngõ Gia Long (2010), Vấn đê biến đổi khi hậu trong luật pháp quốc tế ở thể lÿ 21, Khóa luận tốt nghiệp, Trưởng Đại học Luật Hà Nội, 5) UNEP (2009), Implementing CDM Projects - A Guidebook to Llost Country Legal issues, Denmark, 6) Dr. ‘thomas Suraubhaar (2004), Transaction Casis of CDM Projects in India — An Empirical Survey, Hamburg Institute of International Economics. Mặc đù đã có một số công trình nghiên cứu về khia cạnh pháp lý liên quan đến biến đổi khi hậu của các tác giá trong và ngoài nước, tuy nhiên, chưa có công trình nảo nghiễn cửu sâu sắc toản diện các quy dinh vé CDM va GERs nhằm hoàn thiện các quy định pháp lý cho việc phát triển thị trường này ở Việt Nam. Đởi vậy, việc nghiên cửu sâu sắc vấn dễ thực thì các cam kết quốc tế về biến dỗi khí hậu mà Việt Nam tham gia và nền tang pháp lý cho việc thực hiện các dự án CDM là rất cần thiết.

Mục đích, nhiệm vụ và phạm vì nghiên cứu để tài 1I MO DAU 1. Tỉnh cấp thiết cửa đề tài 'Irong quá trình sinh sống trên Trái Dat, con người luôn tác động vào tự nhiên nhằm phục vụ cho những lợi ích của mình. Những tác động ay bên cạnh những mặt tích cực, còn nhiều tác động liêu cực gây nên những tổn hại nghiêm trọng cho môi trường. Trong những năm qua, Trái Dất ngày một nóng lên, cùng với đỏ là những hiện tượng thời tiết bất thường đã và đang đc dọa dén cuộc sống của hàng tỷ con người, dược chúng ta gọi là hiện tượng biến đổi khí hậu.

Dó là hậu quả của việc cơn người không tôn trọng và bảo vệ thiển nhiên, tàn phá thiên nhiên một cách quá mức. Trưởc những nguy cơ to lớn của biến dỗi khí hậu với con người, Công ước khung của liên Hợp quốc về biển đổi khí hậu (UNFCCC) 48 duge chấp nhận vào 9/5/1992 tại trụ sở của Tiên hợp quốc ử New York và đã có 155 lãnh dạo các nước trên thể giới kỷ Công ước nảy tại Hôi nghị Môi trường và phat trién 6 Rio de Janeiro, Braxin vào tháng 6/1992. Theo Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), những nước đang phát triển, nước nghèo sẽ chịu tác động nặng nề nhất từ hiện Tượng biến đổi khí hậu. Trên thực tế, những cơn bão lớn, những vụ lở núi, sạt đất liên Lục xảy ra trong những năm gần đây ớ nước ta đã chứng thực Việt Nam là một trong những quốc gia có nguy cơ bị tổn thương nghiêm trong do hiện lượng biến đổi khí hậu.

Vì thể, năm 2002, Việt Nam đã tham giá Nghị định thư Kyoto với mục dích góp phần hạn chế những ảnh hưởng do biến dỗi khí hậu. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện nghị định nảy còn khá mới mẻ niên gặp nhiêu rao can. Tại hội nghị các bên tham gia UNECCC lần thứ 3 dược tổ chức tại Kyoto CNhật Bản) tháng 12/1997, Nghị định thư của Công ước đã được thông qua (gọi lả Nghị dịnh thư Kyeto - KP). Điểm nhắn quan trọng của công ước nhìn nhận trên góc dé kinh tế chính là sự hình thành thị trường mua bản chứng nhận giảm phat thai khi nha kinh (CERs - Certified Emission Reductions).

Thị trường mua bán chứng nhận giảm phát thải khí nhà kinh là DANH MUC CAC TU VIET TAT TRONG LUAN ¥ ADB gan hang Phat trién Á Châu APCF Quy Carbon Chau A - ‘thai Binh Duong 0à bà CDM Cơ chế phát triển sạch. CERs Chúng nhận giãm phát thải khí nhà kính CMF Quỹ Hỗ trợ Thị trường Tín dụng, 06 <1 CN tr CMI Sáng kiến Thị trường Carbon. COP Hội nghị thành viên BMC Đánh giá mỗi trường chiến lược DIM Đánh giá tác động môi trường 10 Ban Chap hành quốc tế ễ CDM Tập đoàn Điện lưc ViêL Nam 12 'Tế chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc 13 Quỹ Mỗi trường toán cầu 14 Co ché buôn bán quyền phát thải quốc tế 15 Uy ban Liên chính phú về biển đối khí hậu của LHQ 16 Cứ chế đồng thựo hiện 17 LOA Thu phê duyệt cho đự án CDMI 18 OECD 'Tễ chức Hỗ trợ kinh tế và Phát triển 19 PDD Văn kiện thiết kế đự án 20 PIN 'Thư xác nhận ý tưởng dự án 21 PoA Chương trình hoạt động thea COM 22 PYN Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam 23 TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam 24 Tr Trang 25 TSF Quỹ Hỗ trợ kỹ thuật 26 UNDP. Chương trình phát triển Liên hiệp quốc 27 UNEP, Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc 28 UNFCCC, Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đối khí hậu 29 UNICEL Quỹ Nhi đồng Liên Tiệp Quốc 30 WHO 'Tế chức y tế thể giới DANII MUC CAC BANG, HINT VE VA DO TIT TRONG LUAN VAN độ trung bình Trải Dất từ năm 1865 đến 2006 Biểu đồ băng tan ớ Biển băng Bắc cực Biểu đồ về nực nước biến dâng Thời hạn loại bỏ CEC theo Nghị định thư Montreal Khai quat chung vé cac hoat dong CDM So sảnh các đự án CDM đã đăng ký ở Brazil, Trung Quốc, và Ăn Dộ triển khai dự án theo cơ chế phát triển sạch we Hoàn thiện các quy định pháp luật thuế và tải chính về CDẦM.

138 eo $2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về thương mại ERs 141 » ob Bw Giải pháp lắng cường năng lực thực hiện dự án CDM tại 145 Việt Nam KẾT LUẬN CHUNG 150 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC 159 MO DAU 1. Tỉnh cấp thiết cửa đề tài 'Irong quá trình sinh sống trên Trái Dat, con người luôn tác động vào tự nhiên nhằm phục vụ cho những lợi ích của mình. Những tác động ay bên cạnh những mặt tích cực, còn nhiều tác động liêu cực gây nên những tổn hại nghiêm trọng cho môi trường. Trong những năm qua, Trái Dất ngày một nóng lên, cùng với đỏ là những hiện tượng thời tiết bất thường đã và đang đc dọa dén cuộc sống của hàng tỷ con người, dược chúng ta gọi là hiện tượng biến đổi khí hậu.

Dó là hậu quả của việc cơn người không tôn trọng và bảo vệ thiển nhiên, tàn phá thiên nhiên một cách quá mức. Trưởc những nguy cơ to lớn của biến dỗi khí hậu với con người, Công ước khung của liên Hợp quốc về biển đổi khí hậu (UNFCCC) 48 duge chấp nhận vào 9/5/1992 tại trụ sở của Tiên hợp quốc ử New York và đã có 155 lãnh dạo các nước trên thể giới kỷ Công ước nảy tại Hôi nghị Môi trường và phat trién 6 Rio de Janeiro, Braxin vào tháng 6/1992. Theo Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), những nước đang phát triển, nước nghèo sẽ chịu tác động nặng nề nhất từ hiện Tượng biến đổi khí hậu. Trên thực tế, những cơn bão lớn, những vụ lở núi, sạt đất liên Lục xảy ra trong những năm gần đây ớ nước ta đã chứng thực Việt Nam là một trong những quốc gia có nguy cơ bị tổn thương nghiêm trong do hiện lượng biến đổi khí hậu.

Vì thể, năm 2002, Việt Nam đã tham giá Nghị định thư Kyoto với mục dích góp phần hạn chế những ảnh hưởng do biến dỗi khí hậu. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện nghị định nảy còn khá mới mẻ niên gặp nhiêu rao can. Tại hội nghị các bên tham gia UNECCC lần thứ 3 dược tổ chức tại Kyoto CNhật Bản) tháng 12/1997, Nghị định thư của Công ước đã được thông qua (gọi lả Nghị dịnh thư Kyeto - KP). Điểm nhắn quan trọng của công ước nhìn nhận trên góc dé kinh tế chính là sự hình thành thị trường mua bản chứng nhận giảm phat thai khi nha kinh (CERs - Certified Emission Reductions).

Thị trường mua bán chứng nhận giảm phát thải khí nhà kinh là triển sạch. Kinh nghiệm của Ấn độ trong việc xây dựng khung pháp 64 lý và triển khai các dự án theo cơ chế phát triển sạch Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc xây dựng khung 66 pháp lý và triển khai các dự án thco cơ chế phát triển sạch Kinh nghiệm của Brazil trong việc xây dựng khung pháp. lý và triển khai các dự án theo cơ chế phát triển sạch Thực trạng việc thực hiện các cam kết quốc tế về biến dẫi 77 khí hậu ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ