mở đầu, kết luận, các danh mục hình ảnh, bảng biểu, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề án có cấu trúc như sau: Phần 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN Phần 2: NỘI DUNG CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI TECHCOMBANK – HỘI SỞ HÀ NỘI Phần 3: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KHUYẾN NGHỊ 6 PHẦN 1. CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Chuyển đổi số Tại thời điểm viết đề án, chuyển đổi số (Digital Transformation) vẫn chưa được định nghĩa một cách thống nhất trên cả Việt Nam và thế giới.
Tác giả trích dẫn một số định nghĩa như sau: Theo Cẩm nang Chuyển đổi số của Bộ Thông tin và Truyền thông (2022), “Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số.” Theo Microsoft (2022), “Chuyển đổi số là việc tưởng tượng rằng bạn có thể phối hợp con người, dữ liệu và các quy trình để có thể tạo nên những giá trị cho khách hàng và mang lại lợi thế cạnh tranh trong thế giới số.Rogers (2023), “Chuyển đổi số là biến đổi một doanh nghiệp đã được định hình từ trước, để sống sót trong một thế giới thay đổi liên tục về góc độ số hóa”. Tổng kết lại các định nghĩa nêu trên, Chuyển đổi số chính là quá trình sử dụng, tích hợp đầy đủ công nghệ số (Digital Technologies) vào tất cả lĩnh vực của một tổ chức, doanh nghiệp để thay đổi cơ bản cách hoạt động, vận hành của doanh nghiệp. Quá trình này không chỉ đơn thuần là áp dụng công nghệ mới vào hoạt động hiện tại, mà còn bao gồm sự thay đổi về văn hóa, chiến lược và mô hình kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đạt được hiệu quả cao hơn và tạo ra các giá trị mới. Khái niệm chuyển đổi số (Digital Transformation) thường bị nhập nhằng với khái niệm Số hóa thông tin (Digitization) hoặc Số hóa quy trình (Digitalisation).
Thực tế, 2 khái niệm này chính là các bước con trong quy trình chuyển đổi số tổng quát bao gồm 3 giai đoạn, theo Peter C. Verhoef và cộng sự (2021): - Số hóa thông tin (Digitization): Chuyển đổi dữ liệu từ dạng vật lý (Analog) thành dạng dữ liệu kỹ thuật số (Digital), thể hiện ở các dạng file điện tử như Excel, PDF, lưu trữ online. Đây là bước đầu tiên, làm nền tảng cho quy trình 7 chuyển đổi số. - Số hóa quy trình (Digitalisation): Là hoạt động tiến tới áp dụng công nghệ nhằm tự động hóa các quy trình hoạt động hiện tại của doanh nghiệp.
Một ví dụ là phương thức mua sắm online phát triển và là một lựa chọn khác cho người tiêu dùng cùng với mua sắm truyền thống. - Chuyển đổi số: Là sự thay đổi toàn diện tới các lĩnh vực kinh doanh, phòng ban và nhân sự trong tổ chức, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh và tạo ra giá trị mới cho khách hàng. 2 giai đoạn đầu tiên mang tính chất chuyển đổi số thuần về dữ liệu và phương thức hoạt động. Trên thực tế, các yếu tố trong giai đoạn thứ 3 “Chuyển đổi số” cũng cần phải được thực hiện song song với việc số hoá thông tin, quy trình….
Ngoài ra, các nghiên cứu khác cũng có nhiều quan điểm trái chiều về các giai đoạn của Chuyển đổi số. Khái niệm Ngân hàng thương mại (NHTM) Trước khi phân tích định nghĩa Ngân hàng Thương mại, cần làm rõ về định nghĩa của Trung gian tài chính (Financial Intermediary). Theo Oxford University Press (2014), “Trung gian tài chính là một tổ chức, có thể là ngân hàng, hiệp hội xây dựng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín thác đầu tư, nắm giữ tiền vay từ người cho vay để cho người đi vay.” Ngân hàng Thương mại (Commercial Bank) là một hình thức tổ chức của trung gian tài chính, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực huy động vốn và cho vay. Cũng theo Oxford University Press (2017), “Ngân hàng Thương mại là ngân hàng giao dịch với công chúng, nhận tiền gửi và cho vay đối với số lượng lớn các hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ.” Theo Quốc hội (2024), “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Tổng kết lại, NHTM là một hình thức trung gian tài chính, có chức năng hoạt động của một ngân hàng thông thường và đồng thời nhắm đến mục đích kinh doanh sinh lời. Khái niệm Chuyển đổi số tại NHTM Theo Xiangxiang Zhou và cộng sự (2020), “Chuyển đổi số của tại các Ngân 8 hàng Thương mại đề cập đến các cách thức và phương pháp áp dụng kỹ thuật số công nghệ (như điện toán đám mây, dữ liệu lớn, v.) và khả năng thúc đẩy mô hình kinh doanh của tổ chức đổi mới và tái thiết hệ sinh thái kinh doanh. Mục đích là để đạt được sự chuyển đổi kinh doanh, đổi mới và tăng trưởng.” Theo Guangyu Lu (2023), Chuyển đổi số tại Ngân hàng thương mại có thể được chia thành ba thành phần: Chuyển đổi kênh bán hàng (Channel Transformation), thể hiện bằng cách thay đổi cấu trúc hoạt động tài chính của Ngân hàng. Chuyển đổi lấy người dùng làm trọng tâm (User-centered Transformation), tức là cải tiến sản phẩm, các quy trình kinh doanh và dịch vụ để đáp ứng người dùng.
Cuối cùng là Chuyển đổi được công nghệ hỗ trợ (Technology- supported Transformation), chính là chuyển đổi về chế độ quản lý tài chính. Tổng kết lại, Chuyển đổi số tại NHTM chính là ứng dụng công nghệ số để thay đổi cách hoạt động của NHTM, cải thiện sản phẩm cho người dùng cuối, và các chế độ quản lý tài chính, nhằm đạt được đổi mới và tăng trưởng trong kinh doanh. Nội dung về chuyển đổi số Theo 3 giai đoạn của Chuyển đổi số đã nêu tại cơ sở lý luận (Số hoá thông tin, Số hoá quy trình, Chuyển đổi số), tác giả phân chia khái niệm các nội dung dựa theo các giai đoạn. Trong 6 nội dung được chọn lọc dưới đây, giai đoạn số hoá thông tin cần có sự xây dựng về Chiến lược chuyển đổi số, Cơ sở hạ tầng số, và cuối cùng là Dữ liệu số.
Số hoá quy trình là thay đổi phương thức hoạt động quy trình, thể hiện qua hiệu quả của Sản phẩm số. Cuối cùng, giai đoạn Chuyển đổi số cuối cùng bao gồm nội dung Nhân lực số và An toàn thông tin. Nội dung tại giai đoạn Số hoá thông tin - Chiến lược chuyển đổi số (Digital Transformation Strategy) Chiến lược chuyển đổi số là một kế hoạch tổng thể và dài hạn được thiết kế để áp dụng công nghệ kỹ thuật số vào các hoạt động của tổ chức nhằm tạo ra sự thay đổi cơ bản và toàn diện trong cách thức hoạt động, quản lý và cung cấp dịch vụ. Chiến lược này không chỉ tập trung vào việc ứng dụng các công nghệ mới mà còn bao gồm việc thay đổi văn hóa tổ chức, cải tiến quy trình và phát triển các mô hình kinh doanh mới để đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững.
Rogers (2023), mỗi chiến lược Chuyển đổi số bao gồm 5 giai đoạn: - Tầm nhìn (Vision): Định đặt 1 tầm nhìn chung và dài hạn. Miêu tả môi trường tương lai cho ngành công nghiệp của tố chức, và chọn ra 1 “Sao Bắc Đẩu” là ưu điểm, lợi thế mạnh nhất để tạo vị thế dẫn đầu, thay vì bị phụ thuộc vào những xu thế bên ngoài. - Các ưu tiên (Priorities): Chọn ra những vấn đề có độ ảnh hưởng lớn nhất. Sử dụng các công cụ để phân tích mức độ ưu tiên, cũng như tìm ra cơ hội phát triển cho doanh nghiệp.
- Thí nghiệm (Experimentation): Hợp thức hoá những thử thách mạo hiểm mới. Giai đoạn này cần được thực hiện nhanh chóng để đánh giá hiệu quả của các ý tưởng, công nghệ mới dựa trên phản hồi của khách hàng. - Quản trị (Governance): Doanh nghiệp phải thiết kế được các mô hình quản trị để quản lý đội ngũ nhân lực các cấp, tạo ra các nguồn tài nguyên linh hoạt cũng như nhanh chóng ngừng hoạt động các hoạt động đầu tư không hiệu quả. Tóm lại, việc có một chiến lược chuyển đổi số vững chắc sẽ giúp cho doanh nghiệp tập trung các nguồn lực để thực hiện chuyển đổi số với hướng đi phù hợp nhất, thu được nhiều ý tưởng, kinh nghiệm mới, đồng thời giảm thiểu chi phí và thiệt hại trong quá trình thực hiện chiến lược.
- Cơ sở hạ tầng số (Digital Infrastructure) Theo Robert D. Atkinson và cộng sự (2016), “Cơ sở hạ tầng để cập đến những hệ thống mà loài người sử dụng để vận chuyển hàng hoá, con người hoặc thông tin. “Số” là những hệ thống công nghệ thông tin mà thu thập, xử lý và lan truyền thông tin thông qua dạng điện tử. Do đó, cơ sở hạ tầng số là những cơ sở hạ tầng có bao gồm ít nhất 1 thành phần là công nghệ số” Theo Shane Greenstein (2021), “Những cơ sở hạ tầng hiện nay hỗ trợ rất nhiều những doanh nghiệp sáng tạo trên nền kinh tế chia sẻ, mạng xã hội, các dịch vụ thông tin di động, bán lẻ trên nền tảng số, và truyền thông được hỗ trợ bởi quảng cáo”.
10 Tổng kết lại, cơ sở hạ tầng số là tập hợp các nền tảng công nghệ và hệ thống mạng hỗ trợ việc thu thập, lưu trữ, xử lý và truyền tải dữ liệu số. Đây là nền tảng cơ bản cho mọi hoạt động kỹ thuật số trong một tổ chức hoặc một quốc gia, bao gồm từ các dịch vụ trực tuyến, các ứng dụng di động, đến các hệ thống quản lý dữ liệu và các thiết bị kết nối. - Dữ liệu số (Digital Data) Dữ liệu số là thông tin được biểu diễn dưới dạng số hóa, có thể được lưu trữ, xử lý và truyền tải bởi các thiết bị điện tử và hệ thống máy tính. Dữ liệu số bao gồm các thông tin về văn bản, âm thanh, hình ảnh, video và các loại dữ liệu khác mà có thể được biểu diễn và xử lý bằng các thuật toán số.
Các dữ liệu số được sử dụng trong Chuyển đổi số thường là Dữ liệu lớn (Big Data). Viktoria Spaiser (2021) trong nghiên cứu Digital Data and Methods có dẫn lại Laney (2001) về khái niệm dữ liệu lớn như sau: “Dữ liệu lớn là những dữ liệu có khối lượng lớn, vận tốc truyền đạt lớn, và có số lượng biến thể (chưa sắp xếp) rất lớn, yêu cầu những dạng thức xử lý mới để tăng cừng khả năng ra quyết định, phát hiện các sáng kiến và xử lý quy trình.