CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỂ DỤC THỂ THAO 1. Các khái niệm cơ bản Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng. [6] Thể dục là tất cả những hoạt động của cơ thể nhằm nâng cao hoặc duy trì sự vừa vặn của cơ thể và sức khỏe nói chung. Nó có thể được thực hiện nhằm vài lý do khác nhau.
[11] Thể thao là hình thức thi đấu đặc biệt chủ yếu và phần nhiều bằng sự vận động thể lực nhằm phát huy khả năng chuyên biệt để đạt thành tích thể thao cao nhất. [31] Thể dục thể thao (hay còn gọi là văn hóa thể chất) là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, là một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể dục thể thao nhằm tăng cường thể chất và nâng cao thành tích thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hóa, giáo dục và con người phát triển cân đối, hợp lý. [11] Giáo dục thể chất là môn học chính khóa thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. [30] Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khóa phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao.
[30] TDTT quần chúng là hoạt động tập luyện, biểu diễn, thi đấu thể dục, thể thao tự nguyện nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần cho người 8 tập. [30] Thể thao thành tích cao là hoạt động huấn luyện và thi đấu thể thao có hệ thống của huấn luyện viên, vận động viên nhằm đạt được thành tích, kỷ lục thể thao.[30] Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan, một mặt quan trọng của chính sách xã hội, một biện pháp tích cực để giữ gìn và nâng cao sức khỏe, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần mở rộng giao lưu quốc tế, phục vụ tích cực các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh và quốc phòng của đất nước. [1] Tại Điều 4, Luật TDTT (tại Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-VPQH ngày 29/6/2018 của Văn Phòng Quốc hội) quy định nội dung “Chính sách của nhà nước về phát triển thể dục thể thao” như sau: Phát triển sự nghiệp TDTT nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực, tầm vóc người Việt Nam, góp phần cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần cho Nhân dân, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về thể thao, nâng cao sự hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng dần đầu tư ngân sách nhà nước, dành quỹ đất và có chính sách phát huy nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo bồi dưỡng nhân lực, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao để đào tạo thành những tài năng thể thao, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thể dục, thể thao, phát triển một số môn thể thao đạt trình độ thế giới.
Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao, thành lập cơ sở dịch vụ hoạt động thể thao đáp ứng nhu cầu tập luyện, vui chơi, giải trí của Nhân dân, bảo đảm để các cơ sở thể thao công lập và tư nhân được bình đẳng trong việc hưởng ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai theo quy định của pháp luật. 9 Ưu tiên đầu tư phát triển TDTT ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên phát triển môn bơi, võ cổ truyền và các môn thể thao dân tộc. Thực hiện chính sách phát triển thể dục thể thao 1. Vấn đề chính sách công Bất cứ giai đoạn nào, hiệu quả nâng cao chất lượng chính sách công cũng luôn được đặt ra.
Thực thi chính sách là một khâu quan trọng quyết định sự thành bại của một chính sách công; việc tổ chức thực thi chính sách là quá trình biến các chính sách thành những kết quả, trên thực tế là các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, nhằm hiện thực hóa những mục tiêu mà chính sách đã đề ra. Công tác tổ chức thực thi chính sách nếu không được tiến hành tốt, dễ dẫn đến sự thiếu tin tưởng, thậm chí sự chống đối của nhân dân đối với Nhà nước. Nhiều người hiểu chính sách công một cách đơn giản là những chủ trương, chế độ mà Nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nếu không có việc thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương, chế độ chỉ là những khẩu hiệu.
Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây ra những khó khăn cho Nhà nước trong công tác quản lý. Có những vấn đề trong giai đoạn hoạch định chính sách chưa phát sinh, bộc lộ hoặc đã phát sinh nhưng các nhà hoạch định chưa nhận thấy, đến giai đoạn tổ chức thực thi mới phát hiện. Qua tổ chức thực hiện, cơ quan chức năng mới có thể biết chính sách đó được xã hội và đại đa số nhân dân chấp nhận hay không, đi vào cuộc sống hay không. Việc đưa chính sách công vào thực tiễn không đơn giản, nhanh chóng.
Đó là quá trình phức tạp, đầy biến động, chịu tác động của một loạt các yếu tố, thúc đẩy hoặc cản trở công việc thực thi. Quá trình thực thi chính sách với những hành động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tiễn, đáp 10 ứng yêu cầu của cuộc sống. Nền kinh tế có bước phát triển và tăng trưởng khá; đất nước ta từng bước vượt ra khỏi tình trạng các nước kém phát triển; chủ động tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, góp phần xây dựng một thế giới, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, việc tổ chức thực thi chính sách trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Vì vậy việc nghiên cứu, phân tích sự phát triển TDTT giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị tham gia vào việc tổ chức thực thi chính sách vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lắp, đùn đẩy, giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị, góp phần nâng cao hiệu quả chính sách công. Vấn đề chính sách phát triển thể dục thể thao Chính sách phát triển thể dục, thể thao của Nhà nước là sự thể chế hoá đường lối phát triển TDTT của Đảng, đó là phát triển sự nghiệp TDTT của dân, do dân và vì dân, nhà nước giữ vai trò chủ đạo điều hành nhằm đảm bảo sự công bằng xã hội; hệ thống chính sách về phát triển TDTT thể hiện sự quan tâm chăm lo của Nhà nước đối với nhân dân, Nhà nước không ngừng tăng đầu tư ngân sách, dành quỹ đất và có chính sách phát huy nguồn lực để phát triển TDTT. Nhà nước không ngừng tăng đầu tư ngân sách, theo pháp luật về ngân sách, hàng năm các cấp chính quyền xây dựng kế hoạch kinh phí cho các hoạt động TDTT kể cả đầu tư xây dựng cơ bản đối với các công trình TDTT trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với TDTT, ngân sách nhà nước đầu tư để thực hiện các nhiệm vụ cơ bản như: Quy định chế độ dinh dưỡng đặc thù và đầu tư kinh phí để nuôi dưỡng đào tạo VĐV, trong đó có trọng tâm, trọng điểm. Chính sách đào 11 tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi, bảo đảm về số lượng, chất lượng và cơ cấu chuyên ngành hợp lý như xây dựng chương trình tuyển chọn cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài những chuyên ngành mà Việt Nam còn thiếu hoặc chưa đào tạo được; đầu tư cho các trường đại học và các cơ sở đào tạo tổ chức đào tạo cán bộ TDTT; xây dựng chế độ đãi ngộ của nhà nước với cán bộ TDTT, trong đó chú trọng tới cơ chế chính sách đối với huấn luyện viên (HLV), giáo viên giáo dục thể chất. Xây dựng cơ chế chính sách phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao để đào tạo thành những tài năng thể thao như thành lập các trường năng khiếu thể thao, các trung tâm đào tạo huấn luyện VĐV và có chế độ ưu đãi về nuôi dưỡng và học tập văn hoá để các bậc phụ huynh yên tâm cho con em theo nghiệp thể thao. Chính sách đầu tư và thu hút các nhà khoa học nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động TDTT cho quần chúng nhân dân nhất là cải tiến chương trình giáo dục thể chất và tổ chức các hoạt động thể dục thể thao trong nhà trường; nghiên cứu ứng dụng khoa học nâng cao thành tích các môn thể thao trọng điểm.
Xây dựng chính sách ưu đãi đặc biệt để phát triển một số môn thể thao đạt trình độ thế giới mà Việt Nam có ưu thế. Về cơ sở vật chất như đầu tư xây dựng mới, nâng cấp sửa chữa công trình TDTT công cộng để phục vụ nhân dân đến tập luyện, thi đấu, đào tạo VĐV và đăng cai tổ chức các giải thể thao của quốc gia, quốc tế; mua sắm hoặc sản xuất các trang thiết bị, dụng cụ thể thao phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế. Việc đầu tư của Nhà nước được thực hiện có kế hoạch thống nhất từ trung ương tới địa phương theo quy hoạch chung đã được phê duyệt bảo đảm việc đầu tư có trọng tâm, trọng điểm đạt hiệu quả cao tránh chồng chéo, dàn trải gây lãng phí. 12 Việc dành quỹ đất cho TDTT thể hiện trong quy hoạch chung về sử dụng đất đai của quốc gia, trong quy hoạch cơ sở vật chất cho TDTT, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở các cấp và trong quy hoạch các khu dân cư, khu đô thị mới đều có định mức đất dành cho TDTT theo tỷ lệ thích hợp.
Đối với trường học có tiêu chuẩn định mức diện tích đất dành cho giáo dục thể chất. Giải pháp và công cụ chính sách phát triển thể dục thể thao 1.