Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý giải pháp Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày: (1) Tổng quan về trường CĐ Cộng Đồng BRVT; (2) Các khái niệm về nghỉ việc, dự định nghỉ việc, mối quan hệ giữa dự định nghỉ việc và nghỉ việc, (3) Các định nghĩa về sự thỏa mãn trong công việc và mô hình đo lường sự thỏa mãn trong công việc, (4) Mối liên hệ giữa sự thỏa mãn trong công việc và dự định nghỉ việc, (5) Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu.1 Tổng quan về trường CĐ Cộng Đồng Bà Rịa - Vũng Tàu 2.1 Giới thiệu chung Tên trường: Trường Cao Đẳng Cộng Đồng Bà Rịa - Vũng Tàu Tên tiếng Anh: Ba Ria Vung Tau Community College Địa chỉ: Đường 3/2, phường 11, Thành phố Vũng Tàu Website: http://www.2 Lịch sử hình thành và phát triển của trường Trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa – Vũng Tàu (CĐ Cộng Đồng BRVT) được thành lập vào năm 2000 theo Quyết định số 3636/QĐ-BGDĐT ngày 30/8/2000 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trường chính thức đi vào hoạt động vào năm 2001. Qua hơn 12 năm hình thành và phát triển, trường CĐCĐ BR-VT đã góp phần đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực của tỉnh nhà, nhất là về nguồn lao động có tay nghề kỹ thuật.3 Chức năng hoạt động Chức năng của trường CĐ Cộng Đồng Bà Rịa - Vũng Tàu như sau: - Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đẳng và thấp hơn; - Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát triển công nghệ; 6 - Cấp phát bằng tốt nghiệp thuộc hệ thống văn bằng quốc gia và có giá trị trong cả nước đối với các lĩnh vực đào tạo.4 Đặc điểm cơ cấu nhân sự tại trường CĐ Cộng Đồng BRVT Tính đến 30 tháng 07 năm 2013, tổng số giảng viên cơ hữu đang làm việc tại trường CĐ Cộng Đồng BRVT là 122 người trong đó: - Số giảng viên nữ có 66 người chiếm 56,40% - Số giảng viên trong nhóm tuối dưới 30 tuổi là 55 người chiếm đa 45,08% - Số giảng viên có trình độ đại học là 76 người chiếm 65,00%, trên đại học là 41 người chiếm 35,00%. - Số giảng viên đã có gia đình là 79 người chiếm 64,75%.
- Số giảng viên có thu nhập/tháng dưới 4 triệu đồng là 48 người chiếm 39,34%. Dựa vào cơ cấu nhân sự trên ta thấy rằng đa số các giảng viên trong trường CĐ Cộng Đồng BRVT đều còn trẻ (dưới 30 tuổi) nên có ưu điểm là sự nhiệt tình, đam mê trong công việc, nhạy bén và sáng tạo trong phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên đây cũng là điểm hạn chế, bởi các giảng viên trẻ thường bậc lương của họ không cao, thu nhập hàng tháng của họ khá thấp, đồng thời họ muốn thử thách nhiều hơn, tính ổn định chưa cao. Do đặc thù nghề nghiệp của ngành đào tạo, các giảng viên khi tuyển vào trường đều phải có trình độ học vấn cao.
Tiêu chuẩn tuyển đầu vào là những người ít nhất phải tốt nghiệp loại khá các trường Đại học trở lên, có Bằng B ngoại ngữ và bằng A tin học.5 Đặc điểm công việc của giảng viên Nhiệm vụ chính của giảng viên Giáo dục là một ngành dịch vụ có nhiều tính đặc thù riêng. Công việc của giảng viên có nhiều điểm khác biệt so với các ngành nghề khác, bởi đây là công việc lao động trí óc, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật cao, đòi hỏi sự sáng tạo của giảng viên trong quá trình giảng dạy. Vì vậy giảng viên phải có trình độ cao, kiến thức sâu rộng về chuyên môn và bao quát. Ở các nước phát triển công 7 việc của giảng viên gồm ba công việc chính sau đây: Giảng dạy, nghiên cứu khoa học và cung ứng dịch vụ cho cộng đồng.
Tuy nhiên tại Việt Nam nói chung và trường CĐ Cộng Đồng nói riêng giảng viên chủ yếu thực hiện 2 công việc chính là giảng dạy và nghiên cứu khoa học. - Nhiệm vụ giảng dạy: Giảng viên phải nắm vững nội dung, mục tiêu, phương pháp giảng dạy; xây dựng kế hoạch giảng dạy; lập đề cương bài giảng, soạn tài liệu học tập cho sinh viên; dự giờ và tham gia đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên khác; đánh giá kết quả học tập của sinh viên; hướng dẫn người học thực tập, làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp; thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu và quy định của nhà trường. - Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ: Các giảng viên phải thực hiện nghiên cứu khoa học và công nghệ để phục vụ xây dựng chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình, sách tham khảo, sáng kiến kinh nghiệm trong giảng dạy; viết chuyên đề, tham luận tại các hội nghị, hội thảo khoa học ở trong và ngoài nước; thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao kỹ thuật và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Theo đánh giá chung thì các giảng viên trong trường đã thực hiện khá tốt nhiệm vụ giảng dạy của mình.
Tuy nhiên đối với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ thì hầu hết các giảng viên chỉ làm đề tài nghiên cứu khoa học với mục đích là thực hiện theo quy định, chưa mang tính chất nghiên cứu, ứng dụng thực tế mà gần như mang tính đối phó để đủ giờ chuẩn theo quy định. Bởi vì đa số giảng viên cho rằng họ không được hỗ trợ nhiều cho hoạt động này. Thời gian làm việc của giảng viên Không giống như những ngành nghề khác, thời gian làm việc của giảng viên tương đối linh hoạt. Nhà trường không bắt buộc giảng viên phải có mặt tại trường theo giờ hành chính và làm đủ 8 tiếng/ngày.
Mà chỉ khi nào có tiết dạy, thao giảng, hội họp thì giảng viên mới phải có mặt ở trường. Điều này tưởng chừng như là khối lượng công việc và thời gian làm việc của giảng viên tương đối ít. Nhưng thực tế thì 8 không phải vậy. Vì ngoài thời gian đứng lợp trực tiếp, giảng viên phải thực hiện nhiều công việc khác ở nhà để phục vụ cho việc giảng dạy như soạn giáo án, chấm bài, nghiên cứu tài liệu.
Đồng thời giảng viên phải đảm bảo dạy đủ tiêu chuẩn giờ dạy theo quy định hàng năm trung bình là 570 tiết/người/năm. Theo đánh giá đây là mức chuẩn tương đối cao so với mặt bằng chung trong trường. Để đạt được mức chuẩn này thì giáo viên thường phải dạy từ 4-6 môn/năm. Trong khi đó, các giảng viên trong trường đa phần còn trẻ, kinh nghiệm và thời gian giảng dạy chưa nhiều, để đảm bảo chất lượng giảng dạy thì các giảng viên này phải mất rất nhiều thời gian để nghiên cứu tài liệu và soạn bài.6 Thực trạng nhân sự của trường CĐ Cộng Đồng BRVT Số lượng giảng viên trong trường thường tương ứng với số lượng sinh viên đang theo học tại trường.
Trong thời gian từ năm 2008 trở lại đây do số lượng tuyển sinh hàng năm không tăng mà có chiều hướng giảm, tuy nhiên số lượng giảng viên thì lại tăng nhẹ, năm 2008 toàn trường có 116 giảng viên, đến tháng 07/2013 toàn trường có 122 giảng viên cơ hữu. Sở dĩ có vấn đề này là do, trước đây nhà trường sử dụng giảng viên thỉng giảng nhiều, nhưng những năm gần đây để đảm bảo chất lượng giảng dạy cũng như nhằm mục tiêu ổn định trong công tác quản lý nhân sự, nên nhà trường có xu hướng thay vì mời giảng viên từ bên ngoài trường thì tuyển giảng viên cơ hữu để đảm nhận các dạy môn học này. Bên cạnh đó để giảm số lượng sinh viên trên 1 giảng viên nhà trường cũng đã tăng tuyển dụng thêm. Về mặt số lượng thì không có sự thay đổi nhiều trong 5 năm gần đây.
Tuy nhiên hàng năm lại có sự biến động về số lượng giảng viên nghỉ và tuyển mới. Số lượng giảng viên nghỉ hàng năm chủ yếu tập trung ở 2 khoa là khoa Kinh tế và khoa Cơ khí. Trong số những giảng việc nghỉ việc này, tỷ lệ giảng viên nam thường cao hơn tỷ lệ giảng viên nữ. Những giảng viên nghỉ việc bao gồm cả giảng viên trẻ mới tuyển vào, và những giảng viên đã công tác lâu năm tại trường.
Nhìn chung những giảng viên trẻ khi nghỉ công tác ở trường họ thường chuyển sang làm cho các công ty trong và ngoài nước, còn những giảng viên có thâm niên, kinh nghiệm và trình độ 9 học vấn cao (sau đại học) thì đa phần chuyển sang giảng dạy và làm việc tại các trường Cao đẳng, Đại học khác trong tỉnh. Số lượng giảng viên nghỉ hàng năm được thống kê theo sơ đồ 2.1: Tỷ lệ giảng viên nghỉ việc từ năm 2008 - 2013 Dựa vào hình 2.1 ta thấy tỷ lệ giảng viên nghỉ việc tăng dần qua các năm. Năm 2010 – 2011 là năm có sự biến đổi nhân sự nhiều nhất, có 16 giảng viên nghỉ việc. Trong đó khoa kinh tế có 8 giảng viên nghỉ việc chiếm 50%, khoa cơ khí có 5 giảng viên chiếm 31,25%.
Tại sao tỷ lệ giảng viên nam và giảng viên ở hai khoa Kinh tế và khoa Cơ khí nghỉ việc nhiều như vậy? Đây đang là câu hỏi mà các nhà lãnh đạo trường cần phải tìm ra câu trả lời để có biện pháp giải quyết. Việc biến động nhân sự là tất yếu trong thị trường lao động hiện nay. Tuy nhiên sự biến động đã gây ra sự thiếu hụt nhân sự có chuyên môn, kinh nghiệm và phải mất thời gian để tuyển dụng, đào tạo lại cho những giảng viên mới tuyển vào. Điều này gây ảnh hưởng trực tiếp không nhỏ đến chất lượng giảng dạy của trường.
Bên cạnh đó, sự ra đi của những giảng viên này đã ảnh hưởng đến tâm lý không chỉ đối với những giảng viên ở lại mà còn đối với cả sinh viên. Các giảng viên này sẽ so sánh, phân vân, tìm hiểu nguyên nhân, và cũng có tư tưởng tìm việc làm khác. Khi 10 họ đã có ý định muốn ra đi, không muốn gắn bó lâu dài với trường nữa thì sự nhiệt tình với công việc sẽ giảm đi phần nào.2 Dự định nghỉ việc của nhân viên 2.1 Các quan điểm về dự định nghỉ việc, nghỉ việc Nghỉ việc Nghỉ việc là khi người lao động không tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với tổ chức đang làm nữa. Nghỉ việc là sự di chuyển của nhân viên ra khỏi tổ chức (Rohr và Lynh, 1995).