Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số 9 34 02 01) của nghiên cứu sinh Trần Chí Chinh, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Nhung tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành tháng 1 năm 2022), tiếp cận đề tài: “Sử dụng công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”.
Về tính cấp thiết, nghiên cứu đặt trong bối cảnh các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đang thực hiện quá trình tái cơ cấu căn bản và toàn diện hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) theo chủ trương của Quốc hội và Chính phủ (thể hiện qua Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08/11/2016, Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/07/2017 và Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012). Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng (RRTD) đòi hỏi sự đổi mới theo các chuẩn mực của Hiệp ước an toàn vốn Basel II và Basel III. Công cụ phái sinh tín dụng (PSTD) xuất hiện từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX cung cấp cơ chế quản trị chủ động đối với RRTD, dịch chuyển nhận thức từ rủi ro tĩnh sang rủi ro động, và chuyển mô hình rủi ro từ “khởi tạo – nắm giữ” thụ động sang “khởi tạo – phân bổ” chủ động. Mặc dù các NHTM Việt Nam đã tiếp cận PSTD từ năm 2006, việc ứng dụng trên thực tế vẫn diễn ra ở mức độ rất hạn chế.
Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình học thuật về PSTD tập trung chủ yếu ở các thị trường phát triển – nơi có hệ thống quản trị RRTD phát triển cao và cơ sở hạ tầng thị trường tài chính hoàn chỉnh. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây mới chỉ dừng lại ở các phân tích riêng lẻ hoặc đề xuất mang tính gợi mở, thiếu một khung phân tích hệ thống về các điều kiện áp dụng phù hợp với đặc thù của một nền kinh tế đang phát triển.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích thực trạng sử dụng công cụ PSTD, khám phá các điều kiện và đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các điều kiện để sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD tại các NHTM Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể và các câu hỏi nghiên cứu được xác lập như sau:
- Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD tại các NHTM Việt Nam.
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Thực trạng RRTD tại các NHTM Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng sử dụng công cụ PSTD và các công cụ chuyển giao RRTD khác trong quản trị RRTD tại các NHTM Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Mục tiêu 2: Khám phá các điều kiện để sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD tại các NHTM Việt Nam.
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Để có thể sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD, các NHTM Việt Nam cần phải đáp ứng được các điều kiện gì? và chúng được đánh giá thông qua các biến quan sát nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 4: Thực tế về sự hoàn thiện các điều kiện để sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD tại các NHTM Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các điều kiện để sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD tại các NHTM Việt Nam.
- Câu hỏi nghiên cứu 5: Để hoàn thiện các điều kiện về sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD, các NHTM Việt Nam cần thực hiện những nhóm giải pháp nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 6: Để hoàn thiện các điều kiện về sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD, các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam cần thực hiện các nhóm giải pháp và kiến nghị nào?
Đối tượng nghiên cứu của luận án là việc sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD tại các NHTM, trọng tâm là khám phá các điều kiện để sử dụng công cụ này tại các NHTM Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Phạm vi không gian: Hệ thống các NHTM tại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016 – 2020; dữ liệu sơ cấp khảo sát cán bộ quản lý rủi ro và thẩm định tín dụng thu thập từ tháng 10/2019 đến tháng 12/2019; dữ liệu sơ cấp phỏng vấn sâu chuyên gia lãnh đạo ngân hàng thu thập từ tháng 10/2020 đến tháng 11/2020.
- Phạm vi nội dung: Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở công cụ PSTD phục vụ mục đích quản trị RRTD tại NHTM, không mở rộng sang các công cụ phái sinh tài chính khác như phái sinh lãi suất, ngoại tệ, hàng hóa hay chứng khoán phái sinh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn hướng tiếp cận chính:
Thứ nhất, hướng tiếp cận về lợi ích và rủi ro của việc sử dụng công cụ PSTD. Duffee và Zhou (2001) dùng mô hình lựa chọn đối nghịch chỉ ra rằng PSTD giúp giảm thiểu rủi ro kiệt quệ tài chính, song lợi ích thực tế phụ thuộc mức độ bất cân xứng thông tin. Batten và Hogan (2002) phân loại bốn nhóm PSTD cơ bản gồm CDS, CLN, TRS và CSO. Instefjord (2005) chứng minh đổi mới tài chính qua thị trường PSTD có thể làm gia tăng rủi ro ở các phân khúc tín dụng có độ co giãn cao. Morrison (2005) cảnh báo sự thiếu minh bạch của thị trường thứ cấp PSTD có thể làm suy giảm giám sát ngân hàng và dẫn đến phát hành trái phiếu dưới chuẩn. Nicolo và Pelizzon (2008) chỉ ra tính linh hoạt của PSTD giúp giảm nhẹ vấn đề thông tin nhưng việc thiết kế hợp đồng phụ thuộc vào yêu cầu vốn. Bedendo và Bruno (2012) dùng phương pháp GMM khẳng định chuyển giao rủi ro mang lại lợi ích kinh tế, nhưng việc bán nợ và chứng khoán hóa có mức độ rủi ro cao hơn nhiều so với PSTD.
Thứ hai, hướng tiếp cận về động cơ sử dụng công cụ PSTD. Das (1998) và Hirtle (2009) chỉ ra động cơ nâng cao khả năng đa dạng hóa và quản trị danh mục chủ động. Parlour và Winton (2013) làm rõ động cơ giảm áp lực vốn chủ sở hữu khi các khoản vay mới có tương quan rủi ro cao với danh mục hiện hữu. Norden và cộng sự (2014) sử dụng OLS trên 1.046 khoản vay và 79 ngân hàng giai đoạn 2007 – 2009 chỉ ra rằng vị thế PSTD gộp có tác động nghịch chiều đến chênh lệch lãi suất cho vay, hỗ trợ ngân hàng duy trì rủi ro ở mức mục tiêu. Atkeson và cộng sự (2015) xác định hai động cơ tham gia thị trường phái sinh: phòng ngừa rủi ro cơ sở và tìm kiếm lợi nhuận từ việc cung cấp dịch vụ trung gian tài chính.
Thứ ba, hướng tiếp cận về điều kiện và giải pháp hạn chế rủi ro đạo đức của bên mua PSTD. Các nghiên cứu của Bolton và Oehmke (2011, 2013) phân tích vấn đề "người cho vay không trách nhiệm" (empty creditor) khi chủ nợ đã mua bảo hiểm tín dụng đầy đủ sẽ thiếu động cơ tái cơ cấu hoặc giám sát người vay. Subrahmanyam và cộng sự (2014) chỉ ra rằng giao dịch CDS có thể làm tăng khả năng vỡ nợ của doanh nghiệp do người cho vay không còn động cơ hỗ trợ người vay tái thiết vốn.
Thứ tư, hướng tiếp cận về điều kiện và giải pháp hạn chế rủi ro đạo đức của bên bán PSTD. Jarrow (2011) chỉ ra tình trạng định giá thấp rủi ro dẫn đến bên bán nắm giữ không đủ vốn dự phòng khi xảy ra sự kiện tín dụng diện rộng. Leitner (2012), Acharya và Bisin (2014), Biais và cộng sự (2012, 2016) đề xuất thiết lập trung tâm thanh toán bù trừ tập trung (CCP) và sở giao dịch nhằm tăng tính minh bạch trạng thái vị thế, kiểm soát việc cam kết trùng lặp tài sản và áp dụng cơ chế ký quỹ bổ sung để hạn chế vấn đề người đi xe miễn phí. Duffie và Zhu (2011), Loon và Zhong (2014), Du và cộng sự (2016), Financial Stability Board (2017), Shearman & Sterling (2018), Campbella và cộng sự (2019) tập trung vào các quy định ký quỹ, chuẩn hóa hợp đồng phái sinh ngoài quầy (OTC) theo Đạo luật Dodd – Frank và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Lê Hồ An Châu (2006), Huỳnh Thị Hương Thảo và Bùi Nguyên Khá (2014), Trần Chí Chinh (2019) đã bước đầu đề cập đến sự cần thiết của thị trường PSTD, xác định các nhân tố tác động bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) hoặc phân tích lợi ích của hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định bao gồm hai điểm chính:
- Hầu hết các nghiên cứu tập trung tại các thị trường tài chính phát triển (Mỹ, Tây Âu) – nơi có sẵn cơ sở pháp lý hoàn thiện, hạ tầng dữ liệu và trình độ quản trị rủi ro ở mức cao. Các nghiên cứu này chưa giải thích được điều kiện áp dụng tại các thị trường mới nổi hoặc đang phát triển như Việt Nam.
- Các nghiên cứu hiện có phần lớn tiếp cận các điều kiện thực thi dưới các phương diện phân tán, riêng lẻ (hoặc chỉ tập trung vào kỹ thuật của bên mua/bán, hoặc chỉ tiếp cận góc độ quản lý nhà nước). Luận án định vị khoảng trống cần giải quyết là xây dựng một mô hình lý thuyết tổng thể, tích hợp cả điều kiện nội tại của NHTM và điều kiện môi trường bên ngoài để làm cơ sở cho việc áp dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng trên ba lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết rủi ro và bảo hiểm: Xem PSTD như một cơ chế chuyển giao rủi ro có tính chất bảo hiểm nhằm phân tán tổn thất tiềm ẩn.
- Lý thuyết thông tin bất cân xứng: Phân tích hiện tượng lựa chọn đối nghịch (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard) phát sinh giữa người vay với ngân hàng, cũng như giữa bên mua và bên bán hợp đồng PSTD.
- Lý thuyết đại diện: Giải thích xung đột lợi ích giữa người cấp tín dụng và đối tác cung cấp dịch vụ phòng ngừa rủi ro.
Luận án vận dụng định nghĩa RRTD của BIS (2001): "RRTD là rủi ro xảy ra tổn thất xuất phát từ sự vi phạm bởi người vay hoặc đối tác". Đối với quản trị RRTD, luận án tiếp cận định nghĩa của Gestel và Baesens (2009): "Quản trị RRTD là một quá trình bao gồm nhận diện các rủi ro tiềm tàng, đo lường các rủi ro đó, ứng xử thích hợp, và triển khai thực tế bằng các mô hình rủi ro". Quá trình ứng xử gồm bốn phương thức: né tránh, giảm thiểu, chấp nhận và kiểm soát, chuyển giao rủi ro. Khung phân tích mô hình quản trị chia làm hai trạng thái: mô hình truyền thống "khởi tạo – nắm giữ" và mô hình hiện đại "khởi tạo – phân bổ" thông qua sử dụng PSTD kết hợp đo lường RAROC, VaR, EL và UL.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án lựa chọn cách tiếp cận định tính dựa trên Phương pháp lý thuyết nền (Grounded Theory – GT). Việc lựa chọn GT xuất phát từ lý do vấn đề nghiên cứu còn thiếu lý thuyết khung về các điều kiện thực thi phù hợp với nền kinh tế đang phát triển, đồng thời thị trường Việt Nam hầu như chưa có chuỗi số liệu định lượng về các giao dịch PSTD.
Nguồn dữ liệu của luận án kết hợp ba kênh thông tin:
- Dữ liệu thứ cấp: Các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thường niên, báo cáo tài chính kiểm toán giai đoạn 2016 – 2020 của các NHTM Việt Nam, số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, VAMC.
- Dữ liệu sơ cấp từ khảo sát: Thực hiện từ tháng 10/2019 đến tháng 12/2019 thông qua bảng câu hỏi gửi đến cán bộ, nhân viên thẩm định tín dụng và quản lý RRTD tại các NHTM Việt Nam.
- Dữ liệu sơ cấp từ phỏng vấn sâu: Thực hiện từ tháng 10/2020 đến tháng 11/2020 đối với 11 chuyên gia là lãnh đạo cấp cao phụ trách khối rủi ro và kinh doanh vốn tại 11 NHTM Việt Nam.
Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả so sánh. Dữ liệu phỏng vấn sâu được mã hóa và phân tích theo quy trình của phương pháp lý thuyết nền (Grounded Theory) để hình thành mô hình các điều kiện và trích xuất các tiêu chí đánh giá định tính.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến PSTD và quản trị RRTD. Nghiên cứu phân chia lịch sử nghiên cứu thành các dòng tiếp cận: phân tích lợi ích kinh tế và nguy cơ tích tụ rủi ro hệ thống; động cơ kinh tế thúc đẩy ngân hàng tham gia vị thế PSTD; các biện pháp hạn chế rủi ro đạo đức của bên mua bảo vệ và bên cung cấp bảo vệ tín dụng. Trên cơ sở đối chiếu thực tiễn, chương 1 khẳng định khoảng trống học thuật về sự thiếu vắng một nghiên cứu định tính mang tính hệ thống nhằm xác lập mô hình các điều kiện tiên quyết cho việc sử dụng PSTD tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Chương 2. Cơ sở lý luận về sử dụng công cụ phái sinh tín dụng trong quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
Chương 2 thiết lập khung lý luận căn bản về RRTD, các công cụ PSTD và cơ chế ứng dụng trong ngân hàng. Tác giả làm rõ bản chất kỹ thuật của các công cụ PSTD chủ yếu:
- Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS): Bên mua trả phí định kỳ để nhận khoản thanh toán bồi hoàn khi xảy ra sự kiện tín dụng đối với tài sản cơ sở.
- Hợp đồng hoán đổi tổng thu nhập (TRS): Chuyển giao toàn bộ hiệu quả kinh tế bao gồm cả rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường của tài sản cơ sở.
- Hợp đồng quyền chọn chênh lệch tín dụng (CSO): Bảo hiểm trước sự biến động bất lợi của mức chênh lệch lãi suất tín dụng.
- Trái phiếu ràng buộc tín dụng (CLN): Công cụ kết hợp giữa trái phiếu thông thường và hợp đồng phái sinh tín dụng.
Chương này phân tích sự dịch chuyển từ mô hình "khởi tạo – nắm giữ" sang mô hình "khởi tạo – phân bổ", qua đó chứng minh việc sử dụng PSTD cho phép NHTM chủ động điều chỉnh danh mục cho vay, giảm vốn kinh tế (Economic Capital - EC) và tối ưu hóa tỷ suất sinh lời trên vốn được điều chỉnh theo rủi ro (RAROC). Tác giả tổng hợp bài học kinh nghiệm từ sự sụp đổ của một số định chế tài chính quốc tế trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2008, chỉ ra rằng việc sử dụng PSTD thiếu kiểm soát hoặc thiếu hạ tầng quản trị nội bộ sẽ tạo ra rủi ro đối tác và rủi ro đạo đức nghiêm trọng.
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu định tính kết hợp thống kê mô tả. Tác giả giải trình căn cứ áp dụng phương pháp lý thuyết nền (Grounded Theory - GT), thiết kế bảng hỏi khảo sát định tính và xây dựng khung câu hỏi phỏng vấn mở (bán cấu trúc). Phương pháp chọn mẫu chuyên gia được tiến hành có chủ đích, hướng vào 11 lãnh đạo cấp cao của 11 NHTM đại diện cho cả khối ngân hàng thương mại nhà nước và khối ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô hoạt động tín dụng lớn tại Việt Nam. Quy trình thu thập, mã hóa mở, mã hóa trục và phân tích ngữ cảnh phỏng vấn được thực hiện nghiêm ngặt nhằm hình thành mô hình điều kiện lý thuyết.
Chương 4. Thực trạng sử dụng công cụ phái sinh tín dụng và các điều kiện để sử dụng công cụ phái sinh tín dụng trong quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 4 tập trung phân tích thực trạng RRTD, thực tiễn chuyển giao rủi ro và đánh giá mức độ hoàn thiện các điều kiện sử dụng PSTD tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020.
Về thực trạng chuyển giao RRTD: Hoạt động chuyển giao rủi ro tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020 diễn ra chủ yếu dưới hình thức xử lý nợ xấu ngoại bảng thông qua bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt. Về việc sử dụng PSTD, văn bản ghi nhận giao dịch sản phẩm đầu tư gắn với RRTD được thực hiện từ năm 2006 giữa HSBC Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, khách hàng và HSBC Chi nhánh Hồng Kông; tuy nhiên, sau đó hoạt động này gần như không phát triển thêm trong hệ thống NHTM nội địa.
Từ kết quả phân tích dữ liệu phỏng vấn sâu theo phương pháp lý thuyết nền, luận án trích xuất mô hình điều kiện áp dụng PSTD gồm 5 điều kiện với 12 biến quan sát:
| STT |
Nhóm điều kiện |
Các biến quan sát thành phần |
| 1 |
Sự phát triển về quản trị RRTD của các ngân hàng |
- Biến 1: Nhận thức, quan điểm và mô hình rủi ro - Biến 2: Công cụ quản trị RRTD - Biến 3: Cơ sở dữ liệu và công nghệ thông tin |
| 2 |
Sự phát triển về nguồn nhân lực của các ngân hàng |
- Biến 4: Nhận thức của lãnh đạo và nhân viên - Biến 5: Trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân sự |
| 3 |
Sự quản lý của Nhà nước Việt Nam về phái sinh tín dụng |
- Biến 6: Hành lang pháp lý đối với PSTD - Biến 7: Hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN |
| 4 |
Sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam |
- Biến 8: Quy mô và tính thanh khoản của thị trường vốn - Biến 9: Sự phát triển của thị trường công cụ phái sinh |
| 5 |
Sự phát triển của các chủ thể cung cấp dịch vụ hỗ trợ |
- Biến 10: Tổ chức định mức/xếp hạng tín nhiệm nội địa - Biến 11: Đội ngũ chuyên gia định mức tín nhiệm độc lập - Biến 12: Hạ tầng dữ liệu thông tin tín dụng độc lập |
Kết quả đánh giá thực trạng các điều kiện cho thấy:
- Quản trị RRTD: Phần lớn các NHTM Việt Nam vẫn áp dụng mô hình "khởi tạo – nắm giữ" truyền thống. Việc đánh giá rủi ro phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp phán đoán 5Cs và tài sản bảo đảm. Việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và áp dụng phương pháp IRB theo Basel II diễn ra chậm chạp.
- Nguồn nhân lực: Đa số nhân sự chưa có kiến thức chuyên sâu về các mô hình đo lường rủi ro định lượng (như VaR, Merton, RAROC) và cơ chế vận hành của các hợp đồng phái sinh phức tạp.
- Quản lý nhà nước: Thiếu vắng khung khổ pháp lý điều chỉnh trực tiếp các giao dịch PSTD, thiếu hướng dẫn hạch toán kế toán và giám sát an toàn đối với sản phẩm này.
- Thị trường tài chính và dịch vụ hỗ trợ: Thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn hạn chế về thanh khoản; các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập trong nước chưa phát triển, thiếu cơ sở dữ liệu định mức tín nhiệm chuẩn hóa.
Chương 5. Các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các điều kiện để sử dụng công cụ phái sinh tín dụng trong quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng, chương 5 xác định bối cảnh, quan điểm định hướng và đề xuất hệ thống giải pháp gồm 4 nhóm giải pháp đối với NHTM và các tổ chức dịch vụ, cùng 2 nhóm kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước:
- Nhóm giải pháp 1 (Về quản trị RRTD tại NHTM): Chuyển đổi mô hình quản trị sang "khởi tạo – phân bổ"; chuẩn hóa quy trình phân tích và đo lường tổn thất dự kiến (EL) và tổn thất ngoài dự kiến (UL); nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu nội bộ trên nền tảng ngân hàng số.
- Nhóm giải pháp 2 (Về phát triển nguồn nhân lực tại NHTM): Thay đổi nhận thức của lãnh đạo và cán bộ quản trị rủi ro; tổ chức đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật định giá và quản trị rủi ro công cụ phái sinh theo chuẩn quốc tế.
- Nhóm giải pháp 3 (Về quản lý nhà nước): Hoàn thiện khung pháp lý về giao dịch phái sinh tín dụng, ban hành chuẩn mực kế toán và cơ chế thanh tra, giám sát an toàn vĩ mô của NHNN.
- Nhóm giải pháp 4 (Về tổ chức cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm): Phát triển đội ngũ chuyên gia phân tích độc lập; chuyển giao và tiếp cận công nghệ xếp hạng tín nhiệm theo chuẩn quốc tế.
- Kiến nghị 1 (Đối với NHNN): Ban hành thông tư hướng dẫn cụ thể về điều kiện, quy trình và hạn mức thực hiện các giao dịch PSTD cho các NHTM.
- Kiến nghị 2 (Đối với các Bộ ngành): Xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin doanh nghiệp, nâng cao tính minh bạch thông tin tài chính phục vụ công tác xếp hạng tín nhiệm và định giá tài sản.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn như sau:
Về mặt lý luận và học thuật:
Luận án đã xây dựng mô hình về các điều kiện để sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD tại các NHTM trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển. Mô hình bao gồm 5 nhóm điều kiện với 12 biến quan sát thành phần. Điểm bổ sung của nghiên cứu là thiết lập được bộ tiêu chí đánh giá định tính đối với sự đáp ứng của từng biến quan sát thông qua các dấu hiệu nhận diện cụ thể, tạo khung lý thuyết để đánh giá tính sẵn sàng của hệ thống ngân hàng đối với các công cụ tài chính bậc cao.
Về mặt thực tiễn:
- Luận án cung cấp bức tranh thực nghiệm về thực trạng quản trị RRTD tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020, làm rõ mức độ ứng dụng các phương pháp đo lường theo tiêu chuẩn Basel II và Basel III.
- Cung cấp cơ sở thực tiễn cho các nhà quản trị ngân hàng trong việc xây dựng lộ trình chuyển đổi từ mô hình quản trị rủi ro tĩnh sang mô hình quản trị rủi ro chủ động.
- Cung cấp cơ sở tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan hữu quan trong việc ban hành chính sách điều hành, kiểm tra, giám sát hoạt động chuyển giao rủi ro của hệ thống ngân hàng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án tự xác định hai hạn chế nghiên cứu cụ thể:
- Hạn chế về số liệu giao dịch: Do thị trường PSTD tại Việt Nam chưa phát triển chính thức và tính chất bảo mật thông tin ngân hàng, nghiên cứu chưa thu thập được dữ liệu định lượng về giá trị các giao dịch mua PSTD của các NHTM Việt Nam.
- Hạn chế về phương pháp phân tích: Luận án mới dừng lại ở cách tiếp cận định tính nhằm khám phá và nhận diện các điều kiện cần thiết, chưa thực hiện được nghiên cứu định lượng kiểm định mô hình hồi quy để đo lường mức độ tác động của từng biến quan sát đến quyết định sử dụng PSTD tại các NHTM Việt Nam.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ văn bản là thu thập dữ liệu giao dịch thực tế khi khung khổ pháp lý và thị trường phái sinh tín dụng vận hành chính thức, từ đó tiến hành kiểm định định lượng quy mô mẫu lớn nhằm đo lường cụ thể trọng số và tác động biên của từng điều kiện.
Giá trị tham khảo
Nội dung luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Sử dụng nội dung Chương 1, Chương 2 và hệ thống phụ lục để tìm hiểu hệ thống lý thuyết về chuyển giao rủi ro tín dụng, kỹ thuật vận hành PSTD và phương pháp luận lý thuyết nền (Grounded Theory) trong nghiên cứu tài chính ngân hàng.
- Nhà quản trị rủi ro tại các NHTM: Tham khảo Chương 4 và Chương 5 để đánh giá mức độ sẵn sàng nội tại của tổ chức, rà soát hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, chuẩn bị các điều kiện nhân sự và công nghệ phục vụ lộ trình áp dụng Basel II, Basel III và mô hình quản trị rủi ro chủ động.
- Cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Tham khảo các kiến nghị tại Chương 5 để xây dựng hành lang pháp lý điều chỉnh thị trường phái sinh tín dụng, hoàn thiện các quy định giám sát an toàn vốn và cơ chế thúc đẩy thị trường xếp hạng tín nhiệm độc lập tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn định nghĩa nào về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng?
Luận án lựa chọn định nghĩa RRTD của BIS (2001): "RRTD là rủi ro xảy ra tổn thất xuất phát từ sự vi phạm bởi người vay hoặc đối tác". Đối với quản trị RRTD, luận án tiếp cận định nghĩa của Gestel và Baesens (2009): "Quản trị RRTD là một quá trình bao gồm nhận diện các rủi ro tiềm tàng, đo lường các rủi ro đó, ứng xử thích hợp, và triển khai thực tế bằng các mô hình rủi ro".
2. Sự khác biệt căn bản giữa mô hình rủi ro truyền thống và mô hình rủi ro hiện đại được luận án chỉ ra là gì?
Mô hình truyền thống là mô hình "khởi tạo – nắm giữ" (originate-to-hold) tiếp cận RRTD ở trạng thái tĩnh; ngân hàng thẩm định, giải ngân và duy trì khoản nợ trên bảng cân đối kế toán đến khi đáo hạn. Mô hình hiện đại là mô hình "khởi tạo – phân bổ" (originate-to-distribute) nhìn nhận RRTD ở trạng thái động, kết hợp giám sát khoản vay với việc đo lường rủi ro liên tục và sử dụng các công cụ chuyển giao rủi ro như PSTD để chủ động điều chỉnh danh mục và tối ưu hóa vốn.
3. Mô hình điều kiện sử dụng PSTD do luận án xây dựng gồm những nhóm điều kiện nào?
Mô hình gồm 5 nhóm điều kiện với 12 biến quan sát: (1) Sự phát triển về quản trị RRTD của các ngân hàng; (2) Sự phát triển về nguồn nhân lực của các ngân hàng; (3) Sự quản lý của Nhà nước Việt Nam về PSTD; (4) Sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam; (5) Sự phát triển của các chủ thể cung cấp dịch vụ hỗ trợ.
4. Dữ liệu sơ cấp của luận án được thu thập từ những đối tượng nào và vào thời gian nào?
Dữ liệu sơ cấp gồm hai nguồn: khảo sát bằng bảng câu hỏi đối với cán bộ, nhân viên thẩm định tín dụng và quản lý RRTD tại các NHTM Việt Nam thực hiện từ tháng 10/2019 đến tháng 12/2019; phỏng vấn sâu 11 chuyên gia là lãnh đạo tại 11 NHTM Việt Nam thực hiện từ tháng 10/2020 đến tháng 11/2020.
5. Luận án nêu ra những hạn chế nghiên cứu nào?
Tác giả thừa nhận hai hạn chế: không thu thập được số liệu định lượng về giá trị giao dịch mua PSTD của các NHTM Việt Nam; và mới thực hiện nghiên cứu định tính khám phá điều kiện chứ chưa thực hiện nghiên cứu định lượng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các biến giải thích.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Chí Chinh đã thực hiện một nghiên cứu định tính có hệ thống về vấn đề sử dụng công cụ phái sinh tín dụng trong quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Thông qua phương pháp lý thuyết nền kết hợp phân tích thống kê so sánh dữ liệu giai đoạn 2016 – 2020, nghiên cứu đã xây dựng mô hình gồm 5 điều kiện và 12 biến quan sát làm cơ sở đánh giá thực trạng và nhận diện các rào cản thực thi. Các nhóm giải pháp và kiến nghị được đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cấp năng lực quản trị nội bộ theo chuẩn mực Basel và phát triển thị trường dịch vụ hỗ trợ tín nhiệm độc lập tại Việt Nam.