Luận án tiến sĩ nghiên cứu thơ bang giao Việt Nam từ thế kỷ X đến XIV

Khám phá luận án tiến sĩ về thơ bang giao Việt Nam thế kỷ X-XIV, phân tích sâu sắc văn hóa, lịch sử và giá trị nghệ thuật thời kỳ này.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ
298
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: THƠ BANG GIAO VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI VÀ THƠ BANG GIAO TK X – XIV

1.1. Khát quát về thơ bang giao Việt Nam thời trung đại

1.2. Cơ sở hình thành thơ bang giao Việt Nam thời trung đại

1.3. Đặc trưng thơ bang giao Việt Nam thời trung đại

1.4. Thơ bang giao TK X - XIV

1.5. Những tiền đề của thơ bang giao TK X - XIV

1.6. Vài nét về thơ bang giao Việt Nam TK X - XIV

1.7. Tiểu kết Chương 1

2. CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: NỘI DUNG THƠ BANG GIAO VIỆT NAM TK X – XIV

3.1. Ý thức dân tộc Đại Việt

3.2. Ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước

3.3. Tự hào về văn hóa – lịch sử của dân tộc

3.4. Tình yêu dành cho con người của quê hương xứ sở

3.5. Tinh thần trách nhiệm và trí tuệ, bản lĩnh, khí phách của kẻ sĩ quân tử

3.6. Tinh thần giao hảo giữa Đại Việt và Trung Hoa

3.7. Giao tình giữa các sứ thần Đại Việt và Trung Hoa

3.8. Khát vọng hòa bình

3.9. Cảm hứng về thiên nhiên, đất nước, con người Trung Hoa

3.10. Thiên nhiên, thắng cảnh Trung Hoa

3.11. Cảm hứng về những nhân vật lịch sử

3.12. Cuộc sống Trung Hoa đương thời

3.13. Tiểu kết Chương 3

4. CHƯƠNG 4: NGHỆ THUẬT THƠ BANG GIAO VIỆT NAM TK X - XIV

4.1. Thơ cổ phong

4.2. Thơ Đường luật

4.3. Ngôn ngữ thơ

4.4. Các dạng thức câu thơ

4.5. Tính kỷ sự/ ký sự trong thơ

4.6. Thuật kể xác thực về không gian, thời gian

4.7. Thuật kể công việc

4.8. Tiểu kết Chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thơ bang giao và văn học Việt Nam thế kỷ X XIV

Thơ bang giao là một bộ phận quan trọng trong văn học Việt Nam thời kỳ thế kỷ X-XIV, phản ánh mối quan hệ ngoại giao giữa Đại Việt và các nước láng giềng, đặc biệt là Trung Hoa. Thơ bang giao không chỉ là phương tiện giao tiếp ngoại giao mà còn là di sản văn hóa, thể hiện tinh thần dân tộc và trí tuệ của các sứ thần. Văn học bang giao thời kỳ này đã góp phần xây dựng nền văn hiến riêng của dân tộc, đồng thời khẳng định vị thế của Đại Việt trong khu vực.

1.1. Khái niệm và phân loại thơ bang giao

Thơ bang giao được định nghĩa là những sáng tác thơ ca trong quá trình thực hiện nhiệm vụ ngoại giao, bao gồm thơ đi sứ và thơ tiếp sứ. Thơ đi sứ là những bài thơ được viết trên đường đi sứ, thể hiện tâm tư, tình cảm của sứ thần. Thơ tiếp sứ là những bài thơ đối đáp, tặng tiễn giữa sứ thần Đại Việt và các sứ thần nước ngoài. Văn học ngoại giao Việt Nam thời kỳ này đã hình thành một dòng thơ riêng, mang đậm dấu ấn lịch sử và văn hóa.

1.2. Lịch sử nghiên cứu thơ bang giao

Nghiên cứu về thơ bang giao đã được thực hiện từ lâu, với các công trình sưu tầm, dịch thuật và phân tích. Các nhà nghiên cứu đã khẳng định vai trò khai mở của thơ bang giao thời Lý – Trần trong dòng văn học bang giao của nước nhà. Những nghiên cứu này không chỉ làm rõ đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ bang giao mà còn khẳng định giá trị lịch sử và văn hóa của nó.

II. Quan hệ ngoại giao và văn hóa Việt Nam thế kỷ X XIV

Quan hệ ngoại giao giữa Đại Việt và Trung Hoa thời kỳ thế kỷ X-XIV được thực hiện thông qua hình thức sách phong – triều cống. Đây là cơ sở hình thành dòng thơ ca ngoại giao, phản ánh tinh thần giao hảo và ý thức dân tộc. Văn hóa Việt Nam thời kỳ này đã phát triển mạnh mẽ, với những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và chính trị.

2.1. Cơ sở hình thành thơ bang giao

Thơ bang giao hình thành từ nhu cầu giao tiếp ngoại giao giữa Đại Việt và các nước láng giềng. Các sứ thần, vừa là nhà ngoại giao, vừa là thi nhân, đã sử dụng thơ ca như một công cụ để thể hiện tinh thần dân tộc và khẳng định vị thế của Đại Việt. Văn hóa Việt Nam thời kỳ này đã ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung và hình thức của thơ bang giao.

2.2. Đặc trưng của thơ bang giao

Thơ bang giao thời kỳ thế kỷ X-XIV mang đậm dấu ấn lịch sử và văn hóa. Nội dung thơ thường ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, thể hiện tình yêu quê hương và tinh thần trách nhiệm của kẻ sĩ. Nghệ thuật thơ được thể hiện qua các thể thơ cổ phong, Đường luật, với ngôn ngữ trang trọng, uyển chuyển.

III. Nội dung và nghệ thuật thơ bang giao thế kỷ X XIV

Thơ bang giao thời kỳ thế kỷ X-XIV không chỉ là phương tiện giao tiếp ngoại giao mà còn là tác phẩm nghệ thuật, thể hiện tinh thần dân tộc và trí tuệ của các sứ thần. Nội dung thơ thường ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, thể hiện tình yêu quê hương và tinh thần trách nhiệm của kẻ sĩ. Nghệ thuật thơ được thể hiện qua các thể thơ cổ phong, Đường luật, với ngôn ngữ trang trọng, uyển chuyển.

3.1. Ý thức dân tộc trong thơ bang giao

Thơ bang giao thời kỳ thế kỷ X-XIV thể hiện rõ ý thức dân tộc của Đại Việt. Các sứ thần thông qua thơ ca đã khẳng định vị thế của dân tộc, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước và tự hào về văn hóa – lịch sử của dân tộc. Văn học Việt Nam thời kỳ này đã góp phần xây dựng nền văn hiến riêng của dân tộc.

3.2. Nghệ thuật thơ bang giao

Nghệ thuật của thơ bang giao thời kỳ thế kỷ X-XIV được thể hiện qua các thể thơ cổ phong, Đường luật, với ngôn ngữ trang trọng, uyển chuyển. Tính kỷ sự/ ký sự trong thơ cũng là một đặc điểm nổi bật, giúp thơ bang giao trở thành tư liệu quý giá phản ánh lịch sử và văn hóa thời kỳ này.

IV. Giá trị và ứng dụng của thơ bang giao thế kỷ X XIV

Thơ bang giao thời kỳ thế kỷ X-XIV không chỉ có giá trị lịch sử và văn hóa mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Việc nghiên cứu thơ bang giao giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự dũng cảm, mưu lược và khôn khéo của ông cha ta trong cuộc đấu tranh ngoại giao dựng nước và giữ nước.

4.1. Giá trị lịch sử và văn hóa

Thơ bang giao thời kỳ thế kỷ X-XIV là tư liệu quý giá phản ánh lịch sử và văn hóa của Đại Việt. Những bài thơ này không chỉ ghi lại các sự kiện lịch sử mà còn thể hiện tinh thần dân tộc và trí tuệ của các sứ thần. Văn học Việt Nam thời kỳ này đã góp phần xây dựng nền văn hiến riêng của dân tộc.

4.2. Ứng dụng trong bối cảnh hiện đại

Nghiên cứu thơ bang giao thời kỳ thế kỷ X-XIV giúp chúng ta rút ra bài học sâu sắc trên mặt trận đàm phán để bảo vệ nền hòa bình độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Đồng thời, việc sử dụng “sức mạnh mềm” của thơ ca trong giao lưu chính trị, văn hóa, bang giao thời trung đại có ý nghĩa thực tế nhất định trong bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa, hợp tác hóa hiện nay.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8 Chương này giới thuyết các khái niệm liên quan trực tiếp đến cách tiếp cận vấn đề của luận án: khái niệm thơ bang giao, phân loại thơ bang giao (thơ tiếp sứ, thơ đi sứ); tổng thuật tình hình nghiên cứu đối tượng trên hai phương diện: lịch sử sưu tầm, giới thiệu văn bản thơ bang giao TK X – XIV và lịch sử nghiên cứu giá trị thơ bang giao TK X - XIV. Đó là những vấn đề liên quan đến đề tài luận án nghiên cứu. Ở đây, chúng tôi cũng đưa ra các tiền đề lý thuyết làm cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu đề tài. Thơ bang giao 1.Khái niệm thơ bang giao Để đảm bảo tính khoa học khi xác định đối tượng nghiên cứu của đề tài, tác giả luận án cố gắng giải mã, cắt nghĩa khái niệm thơ bang giao một cách minh định nhất trong tri nhận của cá nhân trên cơ sở tiếp thu những ý kiến của giới nghiên cứu xưa nay.

Trong quá trình khảo sát, hệ thống tư liệu nghiên cứu về thơ bang giao, chúng tôi thấy tồn tại hai vấn đề: Thứ nhất, việc sử dụng thuật ngữ để định danh những sáng tác thơ bang giao thường đặt trong mối quan hệ với thơ đi sứ và gắn với một số quan niệm nghiên cứu cụ thể, chưa thống nhất; thứ hai, cách hiểu thơ bang giao và thơ đi sứ chưa có sự rạch ròi. Lâu nay, giới nghiên cứu tồn tại hai quan niệm về thơ bang giao: Quan niệm thứ nhất, nhiều tác giả đã sử dụng thuật ngữ thơ bang giao theo nghĩa hẹp. Theo quan niệm này, thơ bang giao là những sáng tác xướng họa, đối đáp, tặng tiễn của những nhà ngoại giao Việt Nam với các nhà ngoại giao Trung Hoa. Như vậy, thơ bang giao chỉ là những sáng tác “phục vụ trực tiếp công cuộc đối ngoại của triều đại, dân tộc”.

Quan niệm này lại chia thành hai cách hiểu về thơ bang giao. Trước hết, thơ bang giao là những bài thơ tiếp sứ phương Bắc tại phương Nam của những bậc quân vương, tướng lĩnh nước Việt. Tiêu biểu cho cách hiểu này phải kể đến bài viết “Vài nét về thơ văn bang giao, đi sứ đời Trần trong giai đoạn giao thiệp với nhà Nguyên” của tác giả Trần Thị Băng Thanh – Phạm Tú Châu. Với cách đặt tiêu đề có tính minh định, “thơ bang giao”, “thơ đi sứ”, triển khai nội dung có tính phân loại rõ ràng, các nhà nghiên cứu đã khẳng định thơ bang giao là thơ tiếp, tặng, tiễn sứ thần Trung Hoa sang Việt Nam phong vương.

Cách hiểu này khiến thơ bang giao không bao gồm thơ đi sứ, cũng không phải là một phần của thơ đi sứ. Thơ bang giao đồng đẳng, ngang hàng với thơ đi sứ. Thứ nữa, thơ bang giao là những bài thơ đối đáp, xướng họa của các sứ thần Đại Việt với quan lại “thiên triều” tại Trung Hoa. Suy nghĩ này được soạn giả Đào Phương Bình, Phạm Thiều đề cập trong công trình Thơ đi sứ.

Các bài thơ xướng họa, đối đáp, tặng tiễn của sứ thần Việt Nam viết khi đi sứ Trung Hoa đều được sưu tầm trong cuốn sách. Cách hệ thống tác phẩm như thế, Đào Phương Bình, Phạm Thiều đã nhìn nhận thơ bang giao là bộ phận của thơ đi sứ. Tiểu biểu cho cách hiểu này cũng phải kể đến các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ khi nghiên cứu về thơ đi sứ. Trong những công trình này, bên cạnh thơ viết về thiên nhiên, về lịch sử, thơ tâm tình sứ thần, các tác giả đều 9 dành một phần nói về thơ bang giao.

Cách đặt tiêu đề và phân chia luận điểm trong các luận văn, luận án nghiên cứu về thơ đi sứ đã khiến thơ bang giao trở thành một địa hạt nằm trong thơ đi sứ. Quan niệm thứ hai, nhiều nhà nghiên cứu hiểu thơ bang giao theo nghĩa rộng. Với cách hiểu này, thơ bang giao dùng để chỉ những sáng tác gắn liền với hoạt động ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Hoa. Thơ bang giao không chỉ là thơ tiếp sứ mà còn có thơ đi sứ.

Ở đây, trong thế đối sánh với thơ đi sứ, thơ bang giao rộng hơn thơ đi sứ. Tiêu biểu cho cách hiểu này là các công trình văn hóa – lịch sử như Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Bang giao Đại Việt (Nguyễn Thế Long),., bài tham luận “Thơ bang giao chữ Hán Việt Nam trong sự giao lưu văn hóa Việt Nam và Trung Quốc trên lịch sử trung đại” (Wu Zai Zhao). Đồng quan điểm này còn có tác giả Nguyễn Ngọc Nhuận trong luận án Tiến sĩ Nghiên cứu và đánh giá văn bản thơ văn bang giao của Phan Huy Ích. Sau khi phân tích văn chương bang giao, tác giả luận án tiếp tục tìm hiểu tập sứ trình Tinh sà kỷ hành của Phan Huy Ích.

Nhà nghiên cứu đã xếp thơ đi sứ là một bộ phận của thơ bang giao. Những quan niệm trên cho thấy, việc định danh các khái niệm, thuật ngữ chỉ mang tính tương đối, gắn với tiêu chí riêng của mỗi nhà nghiên cứu. Trong luận án, người viết sử dụng thuật ngữ bang giao theo quan niệm thứ hai. Bang giao được hiểu theo nghĩa rộng, tức là toàn bộ công việc đi sứ và tiếp sứ của triều đại/ dân tộc.

Với quan niệm này, thơ bang giao sẽ bao hàm các sáng tác phục vụ trực tiếp công cuộc ngoại giao với hình thức xướng họa, đối đáp (tiếp, tiễn, tặng sứ Trung Hoa tại Việt Nam; đối đáp với vua, quan Trung Hoa tại “thiên triều”) và cả những sáng tác được làm khi sứ thần nhận nhiệm vụ ngoại giao đến khi kết thúc công việc quốc gia giao phó. Tuy những bài thơ viết về thiên nhiên, lịch sử, đời sống xã hội Trung Hoa, về cảnh ngộ người lữ thứ không trực tiếp thể hiện việc bang giao nhưng vẫn phản ánh tâm thế, tư thế của sứ thần/ nhà ngoại giao/ nhà chính trị đất Việt. Nhờ đó, người đọc có thể hiểu được bối cảnh bang giao, thực cảnh chính trị, vị thế dân tộc trong mối quan hệ với Trung Hoa. Ví như các sứ thần nhà Tây Sơn đi sứ trong thực cảnh đất nước yên bình, thịnh trị, tâm thế, tư thế sứ thần đều hăng hái, phấn khởi.

Những bức tranh thiên nhiên được phản ánh trong thơ họ có khi buồn, có khi vui nhưng đầy sức sống. Ngược lại đi sứ khi đất nước đang có chiến tranh, loạn lạc hay triều đại suy vi thì tâm trạng sứ giả thường lo âu, bất an. Nỗi niềm này biểu hiện nhiều trong thơ sứ trình đời Lê trung hưng, đời Nguyễn. Rõ ràng, bối cảnh ngoại giao đương thời đối với mỗi sứ thần cũng như thơ ca của họ có mối quan hệ mật thiết, tác động biện chứng lẫn nhau.

Hiểu như thế, chúng tôi vẫn xếp những bài thơ viết về thiên nhiên, lịch sử, xã hội Trung Hoa và cảnh ngộ sứ thần được sáng tác khi các nhà ngoại giao Việt Nam đi sứ vào địa hạt thơ bang giao. Theo đó, thơ bang giao là tên gọi định danh những sáng tác của các bậc quân vương, tướng lĩnh, những nhà ngoại giao Việt Nam trong quá trình làm nhiệm vụ bang giao với các nước lân bang, chủ yếu là Trung Hoa. Những sáng tác bang giao được 10 tính từ khi công việc bang giao bắt đầu đến khi công việc bang giao kết thúc. Thơ bang giao bao gồm cả thơ đi sứ và thơ tiếp sứ.

Đó là những sáng tác vừa là văn học chức năng vừa là văn học nghệ thuật. Phân loại thơ bang giao Thơ bang giao bao gồm hai tiểu loại chính: thơ tiếp sứ và thơ đi sứ. Hai tiểu loại này vừa có điểm chung vừa có nét khác biệt. Song, chúng bổ sung cho nhau tạo nên những đặc trưng riêng cho thế giới nghệ thuật thơ bang giao Việt Nam.

Tìm hiểu thơ bang giao trung đại Việt Nam cần hiểu rõ hai tiểu loại này. Thơ tiếp sứ Thơ tiếp sứ là thơ của các nhà ngoại giao Việt Nam khi xướng họa, đối đáp, tặng tiễn, cảm tạ sứ giả Trung Hoa sang phong vương hoặc thực hiện các hoạt động ngoại giao khác. Thơ tiếp sứ là mảng sáng tác độc đáo trong thơ ca bang giao Việt Nam thời trung đại. Ra đời sớm hơn thơ đi sứ, thơ tiếp sứ đóng vai trò khai mở, đặt nền móng cho dòng thơ bang giao trung đại.

Thơ tiếp sứ Trung Hoa bắt đầu với sự kiện Lý Giác sang sứ nước ta lần thứ hai. Vua Lê Đại Hành biết Lý Giác là người giỏi thơ văn nên vị vua đời Tiền Lê đã sai nhà sư Đỗ Pháp Thuận giả làm người chèo đò ra đón sứ. Đỗ Pháp Thuận đã cùng Lý Giác ngâm bài Vịnh nga. Cũng năm ấy, vua sai Khuông Việt đại sư làm bài thơ tiễn chân Lý Giác.

Đến giai đoạn TK XIII – XIV, thơ tiếp sứ phát triển mạnh và đạt nhiều thành tựu. Điều đó được thể hiện qua 26 bài thơ tiếp, tiễn, xướng họa của các vị vua, quan, tướng lĩnh nhà Trần, nhà Hồ với các sứ thần triều Nguyên, triều Minh. Sang đời Lê sơ, thơ tiếp sứ ít ỏi. Sách Lịch triều hiến chương loại chí, trong phần “Nghi thức tiếp đãi”, tác giả Phan Huy Chú có chép 4 bài thơ vua Lê Tương Dực tiễn chân sứ thần nhà Minh là Trạm Nhược Thủy, Phan Hy Tăng hồi quốc.

Những giai đoạn sau, thơ tiếp sứ được các nhà ngoại giao Đại Việt dùng để xướng họa, đối đáp với sứ thần nhà Thanh (Trung Hoa). Theo tác giả Lý Na (Trung Quốc), khi tiếp Chu Xán (nhà Thanh), vua tôi Việt Nam đều có thơ xướng họa, trong đó: Nguyễn Đình Cổn: 2 bài; Nguyễn Đình Trụ: 2 bài; Vũ Duy Khoang: 2 bài; khi xướng họa với sứ thần nhà Thanh là Đức Bảo, Cố Nhữ Tu, vua tôi Việt Nam để lại các sáng tác: Trần Danh Lâm: 18 bài, Nguyễn Xuân Huyên: 18 bài, Trần Di Trạch: 1 bài, Lê Quý Đôn: 3 bài, Lê Duy Mật: 1 bài, Lê Hiển Tông: 2 bài. Thơ tiếp sứ phân chia thành các tiểu loại nhỏ hơn như: thơ đối đáp, xướng họa, thơ tặng, thơ cảm ơn, thơ tiễn sứ giả Trung Hoa. Trong loại thơ này, bao giờ cũng có đối tượng để tặng, tiễn, ứng đối cụ thể, trực tiếp.

Muốn hiểu những bài thơ tiếp sứ Trung Hoa của người Việt cần đặt bài thơ trong mối quan hệ với các bài xướng hoặc bài họa sau đó. Mặt khác, cũng cần tìm hiểu đối tượng để họa thơ, tặng thơ là ai… Vừa lí trí vừa tình cảm; vừa ngợi ca đất Việt vừa không quên tình cảm hòa hiếu với người phương Bắc là những đặc điểm sóng đôi, bổ sung cho nhau tạo nên đặc trưng thơ tiếp sứ Đại Việt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về thơ bang giao Việt Nam thế kỷ X-XIV là một nghiên cứu chuyên sâu về thể loại thơ bang giao, một hình thức văn học đặc trưng trong giai đoạn lịch sử từ thế kỷ X đến XIV của Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các tác phẩm tiêu biểu mà còn làm rõ vai trò của thơ bang giao trong việc thể hiện quan hệ ngoại giao, văn hóa và chính trị của đất nước. Độc giả sẽ được tiếp cận với những góc nhìn mới mẻ về lịch sử văn học và ngoại giao, đồng thời hiểu sâu hơn về bối cảnh xã hội và văn hóa thời kỳ này.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến văn hóa và lịch sử, có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ sạp thái ở tây bắc xưa và nay nghiên cứu địa bàn huyện điện biên tỉnh điện biên 02, một tài liệu khám phá văn hóa truyền thống qua thời gian. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ đảng bộ tỉnh thái nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005 cung cấp cái nhìn sâu sắc về chính sách dân tộc trong bối cảnh hiện đại. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên các trường cao đẳng ở tỉnh nam định hiện nay là một nghiên cứu thú vị về giáo dục và tư tưởng. Mỗi tài liệu này đều mở rộng kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn.