Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8 Chương này giới thuyết các khái niệm liên quan trực tiếp đến cách tiếp cận vấn đề của luận án: khái niệm thơ bang giao, phân loại thơ bang giao (thơ tiếp sứ, thơ đi sứ); tổng thuật tình hình nghiên cứu đối tượng trên hai phương diện: lịch sử sưu tầm, giới thiệu văn bản thơ bang giao TK X – XIV và lịch sử nghiên cứu giá trị thơ bang giao TK X - XIV. Đó là những vấn đề liên quan đến đề tài luận án nghiên cứu. Ở đây, chúng tôi cũng đưa ra các tiền đề lý thuyết làm cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu đề tài. Thơ bang giao 1.Khái niệm thơ bang giao Để đảm bảo tính khoa học khi xác định đối tượng nghiên cứu của đề tài, tác giả luận án cố gắng giải mã, cắt nghĩa khái niệm thơ bang giao một cách minh định nhất trong tri nhận của cá nhân trên cơ sở tiếp thu những ý kiến của giới nghiên cứu xưa nay.
Trong quá trình khảo sát, hệ thống tư liệu nghiên cứu về thơ bang giao, chúng tôi thấy tồn tại hai vấn đề: Thứ nhất, việc sử dụng thuật ngữ để định danh những sáng tác thơ bang giao thường đặt trong mối quan hệ với thơ đi sứ và gắn với một số quan niệm nghiên cứu cụ thể, chưa thống nhất; thứ hai, cách hiểu thơ bang giao và thơ đi sứ chưa có sự rạch ròi. Lâu nay, giới nghiên cứu tồn tại hai quan niệm về thơ bang giao: Quan niệm thứ nhất, nhiều tác giả đã sử dụng thuật ngữ thơ bang giao theo nghĩa hẹp. Theo quan niệm này, thơ bang giao là những sáng tác xướng họa, đối đáp, tặng tiễn của những nhà ngoại giao Việt Nam với các nhà ngoại giao Trung Hoa. Như vậy, thơ bang giao chỉ là những sáng tác “phục vụ trực tiếp công cuộc đối ngoại của triều đại, dân tộc”.
Quan niệm này lại chia thành hai cách hiểu về thơ bang giao. Trước hết, thơ bang giao là những bài thơ tiếp sứ phương Bắc tại phương Nam của những bậc quân vương, tướng lĩnh nước Việt. Tiêu biểu cho cách hiểu này phải kể đến bài viết “Vài nét về thơ văn bang giao, đi sứ đời Trần trong giai đoạn giao thiệp với nhà Nguyên” của tác giả Trần Thị Băng Thanh – Phạm Tú Châu. Với cách đặt tiêu đề có tính minh định, “thơ bang giao”, “thơ đi sứ”, triển khai nội dung có tính phân loại rõ ràng, các nhà nghiên cứu đã khẳng định thơ bang giao là thơ tiếp, tặng, tiễn sứ thần Trung Hoa sang Việt Nam phong vương.
Cách hiểu này khiến thơ bang giao không bao gồm thơ đi sứ, cũng không phải là một phần của thơ đi sứ. Thơ bang giao đồng đẳng, ngang hàng với thơ đi sứ. Thứ nữa, thơ bang giao là những bài thơ đối đáp, xướng họa của các sứ thần Đại Việt với quan lại “thiên triều” tại Trung Hoa. Suy nghĩ này được soạn giả Đào Phương Bình, Phạm Thiều đề cập trong công trình Thơ đi sứ.
Các bài thơ xướng họa, đối đáp, tặng tiễn của sứ thần Việt Nam viết khi đi sứ Trung Hoa đều được sưu tầm trong cuốn sách. Cách hệ thống tác phẩm như thế, Đào Phương Bình, Phạm Thiều đã nhìn nhận thơ bang giao là bộ phận của thơ đi sứ. Tiểu biểu cho cách hiểu này cũng phải kể đến các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ khi nghiên cứu về thơ đi sứ. Trong những công trình này, bên cạnh thơ viết về thiên nhiên, về lịch sử, thơ tâm tình sứ thần, các tác giả đều 9 dành một phần nói về thơ bang giao.
Cách đặt tiêu đề và phân chia luận điểm trong các luận văn, luận án nghiên cứu về thơ đi sứ đã khiến thơ bang giao trở thành một địa hạt nằm trong thơ đi sứ. Quan niệm thứ hai, nhiều nhà nghiên cứu hiểu thơ bang giao theo nghĩa rộng. Với cách hiểu này, thơ bang giao dùng để chỉ những sáng tác gắn liền với hoạt động ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Hoa. Thơ bang giao không chỉ là thơ tiếp sứ mà còn có thơ đi sứ.
Ở đây, trong thế đối sánh với thơ đi sứ, thơ bang giao rộng hơn thơ đi sứ. Tiêu biểu cho cách hiểu này là các công trình văn hóa – lịch sử như Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Bang giao Đại Việt (Nguyễn Thế Long),., bài tham luận “Thơ bang giao chữ Hán Việt Nam trong sự giao lưu văn hóa Việt Nam và Trung Quốc trên lịch sử trung đại” (Wu Zai Zhao). Đồng quan điểm này còn có tác giả Nguyễn Ngọc Nhuận trong luận án Tiến sĩ Nghiên cứu và đánh giá văn bản thơ văn bang giao của Phan Huy Ích. Sau khi phân tích văn chương bang giao, tác giả luận án tiếp tục tìm hiểu tập sứ trình Tinh sà kỷ hành của Phan Huy Ích.
Nhà nghiên cứu đã xếp thơ đi sứ là một bộ phận của thơ bang giao. Những quan niệm trên cho thấy, việc định danh các khái niệm, thuật ngữ chỉ mang tính tương đối, gắn với tiêu chí riêng của mỗi nhà nghiên cứu. Trong luận án, người viết sử dụng thuật ngữ bang giao theo quan niệm thứ hai. Bang giao được hiểu theo nghĩa rộng, tức là toàn bộ công việc đi sứ và tiếp sứ của triều đại/ dân tộc.
Với quan niệm này, thơ bang giao sẽ bao hàm các sáng tác phục vụ trực tiếp công cuộc ngoại giao với hình thức xướng họa, đối đáp (tiếp, tiễn, tặng sứ Trung Hoa tại Việt Nam; đối đáp với vua, quan Trung Hoa tại “thiên triều”) và cả những sáng tác được làm khi sứ thần nhận nhiệm vụ ngoại giao đến khi kết thúc công việc quốc gia giao phó. Tuy những bài thơ viết về thiên nhiên, lịch sử, đời sống xã hội Trung Hoa, về cảnh ngộ người lữ thứ không trực tiếp thể hiện việc bang giao nhưng vẫn phản ánh tâm thế, tư thế của sứ thần/ nhà ngoại giao/ nhà chính trị đất Việt. Nhờ đó, người đọc có thể hiểu được bối cảnh bang giao, thực cảnh chính trị, vị thế dân tộc trong mối quan hệ với Trung Hoa. Ví như các sứ thần nhà Tây Sơn đi sứ trong thực cảnh đất nước yên bình, thịnh trị, tâm thế, tư thế sứ thần đều hăng hái, phấn khởi.
Những bức tranh thiên nhiên được phản ánh trong thơ họ có khi buồn, có khi vui nhưng đầy sức sống. Ngược lại đi sứ khi đất nước đang có chiến tranh, loạn lạc hay triều đại suy vi thì tâm trạng sứ giả thường lo âu, bất an. Nỗi niềm này biểu hiện nhiều trong thơ sứ trình đời Lê trung hưng, đời Nguyễn. Rõ ràng, bối cảnh ngoại giao đương thời đối với mỗi sứ thần cũng như thơ ca của họ có mối quan hệ mật thiết, tác động biện chứng lẫn nhau.
Hiểu như thế, chúng tôi vẫn xếp những bài thơ viết về thiên nhiên, lịch sử, xã hội Trung Hoa và cảnh ngộ sứ thần được sáng tác khi các nhà ngoại giao Việt Nam đi sứ vào địa hạt thơ bang giao. Theo đó, thơ bang giao là tên gọi định danh những sáng tác của các bậc quân vương, tướng lĩnh, những nhà ngoại giao Việt Nam trong quá trình làm nhiệm vụ bang giao với các nước lân bang, chủ yếu là Trung Hoa. Những sáng tác bang giao được 10 tính từ khi công việc bang giao bắt đầu đến khi công việc bang giao kết thúc. Thơ bang giao bao gồm cả thơ đi sứ và thơ tiếp sứ.
Đó là những sáng tác vừa là văn học chức năng vừa là văn học nghệ thuật. Phân loại thơ bang giao Thơ bang giao bao gồm hai tiểu loại chính: thơ tiếp sứ và thơ đi sứ. Hai tiểu loại này vừa có điểm chung vừa có nét khác biệt. Song, chúng bổ sung cho nhau tạo nên những đặc trưng riêng cho thế giới nghệ thuật thơ bang giao Việt Nam.
Tìm hiểu thơ bang giao trung đại Việt Nam cần hiểu rõ hai tiểu loại này. Thơ tiếp sứ Thơ tiếp sứ là thơ của các nhà ngoại giao Việt Nam khi xướng họa, đối đáp, tặng tiễn, cảm tạ sứ giả Trung Hoa sang phong vương hoặc thực hiện các hoạt động ngoại giao khác. Thơ tiếp sứ là mảng sáng tác độc đáo trong thơ ca bang giao Việt Nam thời trung đại. Ra đời sớm hơn thơ đi sứ, thơ tiếp sứ đóng vai trò khai mở, đặt nền móng cho dòng thơ bang giao trung đại.
Thơ tiếp sứ Trung Hoa bắt đầu với sự kiện Lý Giác sang sứ nước ta lần thứ hai. Vua Lê Đại Hành biết Lý Giác là người giỏi thơ văn nên vị vua đời Tiền Lê đã sai nhà sư Đỗ Pháp Thuận giả làm người chèo đò ra đón sứ. Đỗ Pháp Thuận đã cùng Lý Giác ngâm bài Vịnh nga. Cũng năm ấy, vua sai Khuông Việt đại sư làm bài thơ tiễn chân Lý Giác.
Đến giai đoạn TK XIII – XIV, thơ tiếp sứ phát triển mạnh và đạt nhiều thành tựu. Điều đó được thể hiện qua 26 bài thơ tiếp, tiễn, xướng họa của các vị vua, quan, tướng lĩnh nhà Trần, nhà Hồ với các sứ thần triều Nguyên, triều Minh. Sang đời Lê sơ, thơ tiếp sứ ít ỏi. Sách Lịch triều hiến chương loại chí, trong phần “Nghi thức tiếp đãi”, tác giả Phan Huy Chú có chép 4 bài thơ vua Lê Tương Dực tiễn chân sứ thần nhà Minh là Trạm Nhược Thủy, Phan Hy Tăng hồi quốc.
Những giai đoạn sau, thơ tiếp sứ được các nhà ngoại giao Đại Việt dùng để xướng họa, đối đáp với sứ thần nhà Thanh (Trung Hoa). Theo tác giả Lý Na (Trung Quốc), khi tiếp Chu Xán (nhà Thanh), vua tôi Việt Nam đều có thơ xướng họa, trong đó: Nguyễn Đình Cổn: 2 bài; Nguyễn Đình Trụ: 2 bài; Vũ Duy Khoang: 2 bài; khi xướng họa với sứ thần nhà Thanh là Đức Bảo, Cố Nhữ Tu, vua tôi Việt Nam để lại các sáng tác: Trần Danh Lâm: 18 bài, Nguyễn Xuân Huyên: 18 bài, Trần Di Trạch: 1 bài, Lê Quý Đôn: 3 bài, Lê Duy Mật: 1 bài, Lê Hiển Tông: 2 bài. Thơ tiếp sứ phân chia thành các tiểu loại nhỏ hơn như: thơ đối đáp, xướng họa, thơ tặng, thơ cảm ơn, thơ tiễn sứ giả Trung Hoa. Trong loại thơ này, bao giờ cũng có đối tượng để tặng, tiễn, ứng đối cụ thể, trực tiếp.
Muốn hiểu những bài thơ tiếp sứ Trung Hoa của người Việt cần đặt bài thơ trong mối quan hệ với các bài xướng hoặc bài họa sau đó. Mặt khác, cũng cần tìm hiểu đối tượng để họa thơ, tặng thơ là ai… Vừa lí trí vừa tình cảm; vừa ngợi ca đất Việt vừa không quên tình cảm hòa hiếu với người phương Bắc là những đặc điểm sóng đôi, bổ sung cho nhau tạo nên đặc trưng thơ tiếp sứ Đại Việt.