Luận án tiến sĩ vật lý thiết kế và xây dựng hệ thống dẫn đường tích hợp ins gps dùng cho các vật thể chuyển động

Luận án tiến sĩ vật lý nghiên cứu thiết kế hệ thống dẫn đường tích hợp INS/GPS cho vật thể chuyển động, ứng dụng công nghệ hiện đại.

Chuyên ngành

Vật lý Vô tuyến

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
115
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

1.1. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

1.2. DANH MỤC CÁC BẢNG

1.3. DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

1.4. MỞ ĐẦU

1.4.1. TỔNG QUAN VỀ HỆ DẪN ĐƯỜNG TÍCH HỢP INS/GPS

1.4.2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.5. ĐẶC TRƯNG HÓA SAI SỐ CỦA CÁC CẢM BIẾN SỬ DỤNG TRONG HỆ DẪN ĐƯỜNG TÍCH HỢP

1.6. THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG DẪN ĐƯỜNG TÍCH HỢP INS/GPS

1.7. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1.8. DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.9. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

2. MỞ ĐẦU

2.1. Lý do chọn đề tài

2.2. Mục đích nghiên cứu

2.2.1. Mục tiêu chung

2.2.2. Mục tiêu cụ thể

2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

2.6. Bố cục của luận án

3. TỔNG QUAN VỀ HỆ DẪN ĐƯỜNG TÍCH HỢP INS/GPS

3.1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống dẫn đường tích hợp INS GPS

Hệ thống dẫn đường tích hợp INS/GPS là một giải pháp kết hợp ưu điểm của hệ thống dẫn đường quán tính INShệ thống định vị toàn cầu GPS. Hệ thống INS hoạt động dựa trên các cảm biến gia tốc và vận tốc góc, cung cấp dữ liệu với tần số cao nhưng dễ bị trôi theo thời gian. Hệ thống GPS cung cấp vị trí chính xác nhưng tần số cập nhật thấp và dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường. Sự kết hợp này tạo ra một hệ thống dẫn đường chính xác, đáp ứng nhu cầu định vị và điều khiển cho các vật thể chuyển động như máy bay, tàu thủy, và robot.

1.1. Nguyên lý hoạt động của hệ thống INS và GPS

Hệ thống INS sử dụng các cảm biến gia tốc và vận tốc góc để tính toán vị trí, vận tốc và tư thế của vật thể. Tuy nhiên, sai số tích lũy theo thời gian là nhược điểm lớn. Hệ thống GPS dựa trên tín hiệu từ vệ tinh để xác định vị trí, nhưng dễ bị ảnh hưởng bởi địa hình và thời tiết. Hệ thống tích hợp INS/GPS sử dụng bộ lọc Kalman để kết hợp dữ liệu từ hai hệ thống, giảm thiểu sai số và nâng cao độ chính xác.

1.2. Ứng dụng của hệ thống tích hợp INS GPS

Hệ thống dẫn đường tích hợp INS/GPS được ứng dụng rộng rãi trong quân sự, hàng không, và giao thông vận tải. Ví dụ, trong hàng không, hệ thống này giúp máy bay duy trì quỹ đạo chính xác ngay cả khi tín hiệu GPS bị gián đoạn. Trong lĩnh vực robot, nó hỗ trợ định vị và điều khiển chuyển động tự động. Hệ thống đa phương tiện này cũng được sử dụng trong các phương tiện tự hành dưới nước và trên không.

II. Đặc trưng hóa sai số của cảm biến trong hệ thống INS

Cảm biến MEMS trong hệ thống INS có vai trò quan trọng nhưng dễ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và môi trường. Sai số của cảm biến được phân loại thành sai số tất định và sai số ngẫu nhiên. Phương pháp mật độ phổ công suất (PSD)phương pháp phương sai Allan được sử dụng để đặc trưng hóa các sai số này. Việc hiểu rõ các nguồn sai số giúp cải thiện độ chính xác của hệ thống dẫn đường tích hợp INS/GPS.

2.1. Phân tích sai số tất định và ngẫu nhiên

Sai số tất định của cảm biến thường do lỗi hiệu chuẩn hoặc ảnh hưởng nhiệt độ. Sai số ngẫu nhiên xuất phát từ nhiễu trong quá trình đo lường. Phương pháp PSD giúp phân tích các thành phần nhiễu trong tín hiệu, trong khi phương pháp phương sai Allan xác định các tham số nhiễu như độ trôi và độ lệch chuẩn. Các phương pháp này là cơ sở để thiết kế các thuật toán bù sai số hiệu quả.

2.2. Bù trừ ảnh hưởng nhiệt độ lên cảm biến

Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng lớn đến độ chính xác của cảm biến từ trường và gia tốc. Các nghiên cứu đã đề xuất cấu trúc bù nhiệt độ sử dụng vòng lặp kín và vòng lặp mở. Kết quả thực nghiệm cho thấy việc bù nhiệt độ giúp giảm đáng kể sai số góc hướng và nâng cao độ ổn định của hệ thống dẫn đường.

III. Thiết kế và xây dựng hệ thống dẫn đường tích hợp INS GPS

Thiết kế hệ thống dẫn đường tích hợp INS/GPS tập trung vào việc sử dụng bộ lọc Kalman mở rộng (EKF) để kết hợp dữ liệu từ INS và GPS. Hệ thống được thiết kế để hoạt động hiệu quả ngay cả khi tín hiệu GPS bị gián đoạn. Các kết quả thực nghiệm cho thấy hệ thống này có độ chính xác cao và khả năng ứng dụng rộng rãi trong thực tế.

3.1. Thiết kế bộ lọc Kalman mở rộng

Bộ lọc Kalman mở rộng (EKF) được sử dụng để xử lý dữ liệu từ INS và GPS. EKF giúp ước lượng trạng thái của hệ thống và giảm thiểu sai số tích lũy. Cấu trúc lọc được thiết kế linh hoạt để phù hợp với các điều kiện tín hiệu GPS không ổn định. Kết quả mô phỏng và thực nghiệm cho thấy EKF cải thiện đáng kể độ chính xác của hệ thống.

3.2. Kết quả thực nghiệm và đánh giá

Các thử nghiệm thực địa được tiến hành để đánh giá hiệu quả của hệ thống dẫn đường tích hợp INS/GPS. Kết quả cho thấy hệ thống duy trì độ chính xác cao ngay cả khi tín hiệu GPS bị mất. Điều này chứng tỏ khả năng ứng dụng thực tế của hệ thống trong các lĩnh vực như giao thông vận tải, quân sự và robot tự hành.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 trình bày các công trình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước; Nguyên tắc hoạt động của hệ thống dẫn đường INS, hệ thống định vị toàn cầu GPS, và hệ dẫn đường tích hợp INS/GPS. Chương 2 tiến hành phân tích và đặc trưng hóa sai số của các cảm biến MEMS sử dụng trong hệ thống dẫn đường INS (cảm biến gia tốc, cảm biến vận tốc góc, cảm biến từ trường). Chương 3 thực hiện thiết kế và xây dựng hệ thống dẫn đường tích hợp INS/GPS sử dụng các cấu trúc lọc Kalman linh hoạt, phù hợp trong các điều kiện tín hiệu GPS gián đoạn. Phần kết luận và kiến nghị tổng kết lại các vấn đề luận án đã thực hiện được và đưa ra những kiến nghị và hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án.

TỔNG QUAN VỀ HỆ DẪN ĐƯỜNG TÍCH HỢP INS/GPS 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC Ngày nay, nhu cầu về định vị, dẫn đường và điều khiển cho các vật thể chuyển động như rô bốt, máy bay, tên lửa, ô tô, tàu thuyền… đã trở thành một nhu cầu hết sức cấp thiết trong nhiều lĩnh vực đời sống và an ninh quốc phòng. Một trong những hệ thống dẫn đường hiện nay đang được sử dụng nhiều là hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu (GPS). Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm như độ chính xác tương đối cao và ổn định theo thời gian, hệ thống GPS có những nhược điểm như tín hiệu GPS chịu ảnh hưởng của phương thức và môi trường truyền dẫn, thậm chí tín hiệu GPS có thể bị gián đoạn trong một khoảng thời gian xác định do ảnh hưởng của địa hình v.

Bên cạnh hệ thống GPS, hệ thống dẫn đường quán tính INS cũng đang được sử dụng nhiều vào mục đích dẫn đường. Hệ thống INS xác định tọa độ và các thông tin của vật thể chuyển động dựa trên các thông số đo đạc tính toán từ các cảm biến gắn trên vật thể như cảm biến gia tốc, cảm biến vận tốc góc, la bàn từ… Với sự phát triển của công nghệ vi cơ điện tử và vi hệ thống (MEMS), hệ thống INS ngày nay có giá thành rẻ, nhỏ gọn, thời gian đáp ứng nhanh, khả năng hoạt động độc lập cao, dễ dàng tích hợp với các thành phần điện tử khác. Tuy nhiên hệ thống INS dựa trên cảm biến MEMS vẫn còn những hạn chế như độ trôi lớn, phụ thuộc vào điều kiện môi trường. Các vấn đề trên dẫn tới một giải pháp toàn diện là xây dựng hệ thống dẫn đường tích hợp trong đó kết hợp các ưu điểm của hai hệ thống INS và GPS, từ đó tạo nên một hệ thống dẫn đường mang tính hoàn thiện cao đáp ứng được các yêu cầu thực tế.

Trên thế giới, việc nghiên cứu về hệ thống dẫn đường tích hợp INS/GPS đã thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các nhà khoa học. Định vị dẫn đường là một lĩnh vực rất phổ biến của động lực học phi tuyến, vấn đề cốt lõi của việc phát triển hệ thống định vị dẫn đường là ước lượng trạng thái của hệ thống động lực học. Tuy nhiên, trong việc ước lượng hệ thống động lực học phi tuyến thì không có một lời giải đơn giản nào cho tất cả các bài toán đặt ra. Nhìn chung, có ba phương pháp để 5 ước lượng cho hệ thống định vị: - Bộ lọc Kalman được tuyến tính hóa hoặc bộ lọc Kalman mở rộng EKF (Extended Kalman Filter).

- Các bộ lọc dựa trên việc lấy mẫu: bộ lọc Kalman UKF (The Unscented Kalman Filter) và các bộ lọc điểm. - Các phương pháp dựa trên trí tuệ nhân tạo AI (Artificial Intelligence) như: mạng nơ-ron nhân tạo ANN (Artificial neural networks), hệ thống thông tin mờ nơ-ron thích nghi ANFIS (Adaptive neural fuzzy information system). Trong nghiên cứu [63], Weiss J. đã sử dụng máy thu GPS trợ giúp cho hệ thống INS, hệ tích hợp này sử dụng một bộ lọc Kalman nội bộ để mô hình hệ thống INS và xử lý các thông tin trả về từ GPS để thu được các thông tin về vận tốc và vị trí.

Mô hình bộ lọc Kalman này chỉ mô hình hóa những sai số cơ bản của INS và không mô hình hóa sai số của cảm biến gia tốc và cảm biến vận tốc góc. Kết quả cho thấy rằng khi tín hiệu GPS không tốt thì hệ thống tích hợp lỏng vòng kín cũng hoạt động kém hiệu quả, trong khi đó hệ thống tích hợp kiểu chặt lại cho kết quả khá tốt. Tuy nhiên nhờ việc tích hợp thêm bộ lọc Kalman vào đầu thu GPS kết hợp với mô hình hóa sai số của các cảm biến gia tốc và cảm biến vận tốc góc thì sai số của hệ thống tích hợp kiểu lỏng cũng giảm xuống đáng kể. đã phát triển một bộ mô phỏng tên lửa bay với bộ dẫn đường gắn liền [28].

Hai bộ lọc Kalman đã được sử dụng, bộ thứ nhất thiết kế cho máy thu GPS trong hệ động lực học cao để ước lượng các trạng thái của GPS và so sánh hoạt động của bộ lọc với thuật toán bình phương tối thiểu. Bộ lọc Kalman thứ hai được sử dụng để kết hợp thông tin từ các cảm biến gia tốc và vận tốc góc với tần số cập nhật cao và thông tin từ GPS với tần số cập nhật thấp. đã trình bày một cách tiếp cận để nâng cao đặc trưng của hệ thống tích hợp INS/GPS theo kiểu chặt [29]. Hệ thống này có một phần cứng xử lý độ lệch thời gian giữa các pha của sóng mang thay cho những đo lường biến thiên khoảng cách, kết quả độ chính xác của vận tốc và vị trí trong hệ tích hợp tăng lên.

6 Điều này đóng vai trò quan trọng trong khoảng thời gian khi tín hiệu GPS bị mất do nhiễu. Phương pháp này đã được áp dụng vào hệ thống tên lửa, nơi mà các cảm biến chịu tác động lớn bởi dao động của hệ thống. Trong công trình nghiên cứu [33] Johnson và các đồng nghiệp đã đề xuất hai phương pháp để nâng cao bộ lọc Kalman mở rộng cho hệ dẫn đường phương tiện bay không người lái UAV (Unmanned Aerial Vehicles). Phương pháp thứ nhất sử dụng qui luật mờ để chọn các tham số cho bộ lọc thích nghi.

Phương pháp thứ hai sử dụng cấu trúc lặp đệ quy song song để tăng tốc độ tính toán cho bộ lọc Kalman. Cả hai phương pháp này được mô tả một cách vắn tắt và đưa ra kết quả mô phỏng. Một hệ thống dẫn đường thông minh ứng dụng cho phương tiện tự hành dưới nước AUV (Autonomous underwater vehicle) đã được đề xuất bởi Loebis và các cộng sự [39]. Một bộ lọc Kalman đơn giản (SKF) và EKF được đề xuất để xử lý dữ liệu từ INS và tích hợp với dữ liệu GPS.

Trong bài báo này kỹ thuật logic mờ thích nghi được ứng dụng cho cả EKF và SKF. Kết quả cho thấy đã cải thiện được các ước lượng của từng bộ lọc riêng lẻ và nâng cao độ chính xác tổng thể của hệ thống tích hợp INS/GPS. Một hệ thống dẫn đường tích hợp INS/GPS dựa trên lý thuyết tổng hợp dữ liệu đa cảm biến được khảo sát bởi Wang và các cộng sự [7]. Những mô hình sai số của khối đo lường quán tính IMU (Inertial Measurement Unit) được áp dụng cho bộ lọc EKF trong hệ thống INS.

Một bộ lọc Kalman cải tiến được phát triển để loại bỏ sai số của GPS và giảm tải thời gian tính toán. Một bộ lọc Kalman thích nghi được sử dụng để tổng hợp dữ liệu từ INS và GPS, đưa ra thông tin về vị trí một cách liên tục trong cả trường hợp mất GPS. Kết quả cho thấy rằng hệ thống thích nghi INS/GPS hoạt động tốt hơn từng hệ thống INS và GPS hoạt động riêng lẻ. Gizawy và các cộng sự đã giới thiệu một kỹ thuật mới tích hợp INS/GPS sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo [15].

Kết quả chỉ ra rằng mô hình đề xuất cải thiện đáng kể độ chính xác của vị trí ước tính trong thời gian GPS. Rashad và Aboelmagd đã sử dụng mạng nơ-ron nhân tạo (ANN) cho dữ liệu 7 tổng hợp từ INS và GPS [55]. Mặc dù có thể cải thiện được độ chính xác của hệ, nhưng do tính phức tạp kết hợp với kiến trúc mạng nhiều lớp và các thuật toán đào tạo trực tiếp đã hạn chế khả năng thực hiện thời gian thực của kỹ thuật này. Nghiên cứu về hệ thống dẫn đường tích hợp INS/GPS cũng đã thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học trong nước trong những năm vừa qua.

Trong nghiên cứu [1] tác giả đã đưa ra phương pháp trộn dữ liệu đa cảm biến tích hợp MEMS-INS/GPS kết hợp bộ lọc Kalman để nhận dạng chuyển động của phương tiện cơ giới quân sự. Tác giả cũng đã xây dựng thuật toán kết hợp bộ lọc Kalman với hệ suy diễn mờ trộn dữ liệu đầu ra gia tốc kế và con quay để đánh giá tham số độ cân bằng mặt phẳng bệ thân xe của phương tiện cơ giới quân sự. Qua đó đã hạn chế được sai số trong đánh giá tham số vị trí và tham số độ nghiêng mặt phẳng bệ của phương tiện trong quá trình chuyển động. Trong nghiên cứu này tác giả mới chỉ áp dụng bộ lọc Kalman đơn giản.

Để tăng độ chính xác của các đánh giá thì cần phải cải tiến bộ lọc Kalman để có thể giải quyết được các sai số mang tính phi tuyến cao bằng cách sử dụng bộ lọc Kalman mở rộng (EKF) hoặc bộ lọc Kalman không bản chất (UKF). Thông qua quá trình khảo sát hệ thống dẫn đường quán tính INS được trang bị trên các tên lửa hành trình, trong nghiên cứu [3] tác giả đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng hệ dẫn đường thiết bị bay trên cơ sở xử lý thông tin từ hệ thống tích hợp INS/GPS/Baro. Hệ thống được thiết kế theo cấu trúc ghép lỏng dựa trên hệ thống INS có cấp độ chính xác trung bình. Tác giả cũng đã xây dựng, thiết kế, lựa chọn mạng nơ ron để duy trì sai số kênh quan sát làm đầu vào trong bộ lọc Kalman trong trường hợp mất tín hiệu GPS.

Tuy nhiên các kết quả thu được mới chỉ dừng lại ở mức độ mô phỏng. Trong nghiên cứu [2] tác giả đã đề xuất một giải pháp thiết kế hệ thống tích hợp GPS/INS trên cơ sở cấu trúc phân tán sử dụng INS 9 – DOF nhằm nâng cao chất lượng cho các thiết bị định vị dẫn đường sử dụng GPS phục vụ bài toán giám sát phương tiện giao thông đường bộ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Thiết kế hệ thống dẫn đường INS-GPS cho vật thể chuyển động" tập trung vào việc phát triển một hệ thống dẫn đường tích hợp giữa công nghệ INS (Inertial Navigation System) và GPS (Global Positioning System) nhằm nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong việc định vị các vật thể chuyển động. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp thiết kế và ứng dụng của hệ thống dẫn đường, mà còn nêu bật những lợi ích mà hệ thống này mang lại trong các lĩnh vực như hàng không, hàng hải và vận tải. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức hoạt động của INS-GPS, cũng như các thách thức và giải pháp trong quá trình phát triển hệ thống.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt ncs nguyễn khắc tấn, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu tiến sĩ khác. Ngoài ra, tài liệu luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế dung quất huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi cũng có thể mang lại những thông tin hữu ích về ứng dụng công nghệ trong các lĩnh vực khác. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người, để thấy được sự liên kết giữa công nghệ và bảo vệ môi trường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các ứng dụng công nghệ trong nghiên cứu và thực tiễn.