Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu tên riêng chỉ người ở nước ngoài Vấn đề nghiên cứu tên riêng đã được nhắc đến rất sớm trong các tác phẩm triết học thuộc nhiều trường phái (duy tâm, duy vật) khác nhau của các nhà bác học cổ đại như Socrates, Platon, Pythagore, Héraclite, Aristote (Aristoteles, Aristotle), Democrite, Georg Wilhelm Friedrich Hegel,. Khi mà lịch sử khoa học chưa có sự phân biệt giữa cái chung và cái riêng thì bản chất tên riêng trong sự phân biệt với tên chung vẫn chưa được giải quyết một cách rõ ràng.
Chỉ đến khi một ngành khoa học chuyên nghiên cứu về tên riêng xuất hiện (môn tên riêng) thì nhiều vấn đề liên quan đến tên riêng mới ngày càng được làm sáng tỏ. Mặc dù vậy cho đến nay còn nhiều lĩnh vực khác nhau trong môn tên riêng đang cần được bổ sung, hoàn thiện cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn trên cơ sở của việc giải quyết các vấn đề tên riêng trong từng tộc người, ngôn ngữ cụ thể,. Trong nghĩa học, việc nghiên cứu các hình thức, nội dung và từ nguyên của các tên riêng, nhất là tên người, và tên các miền đất được nghiên cứu trong chuyên ngành gọi là Danh xưng học (Onomasiologie/ Onomastics). Ngay trong bản thân ngành Danh xưng học này bao gồm hai phân ngành riêng gọi là Nhân danh học (Athroponymic/ Athroponomastics) và Địa danh học (Toponymic/ Toponymy).
Nhân danh học là một bộ môn của nghĩa học nghiên cứu về tên người (có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: Anthropos: con người; Onyma: tên gọi). Nhiệm vụ chủ yếu của bộ môn này là phát hiện ra những quy luật cơ bản về lai lịch, quá trình biến đổi và phát triển của tên 9 người trong hệ thống ngôn ngữ. Vị trí của phân ngành này trong Danh xưng học được hình dung như sau Danh xưng học (Onomasiologie) : Địa danh học Nhân danh học (Toponymic) (Athroponymic) Tên người là đối tượng đa dạng và phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học liên quan đến con người, trong đó đặc biệt có liên quan đến các ngành khoa học xã hội và nhân văn như: ngôn ngữ học, xã hội - ngôn ngữ học, văn hóa học, nhân học (Anthropology),… Chính vì vậy mà tên người có thể được nhiều ngành khoa học nghiên cứu từ nhiều khía cạnh, bình diện khác nhau tùy theo mục đích của mỗi ngành khoa học đó. Chẳng hạn, từ phương diện ngôn ngữ học và tùy theo các trường phái ngôn ngữ học và cách tiếp cận khác nhau mà cách nhìn nhận về tên người có thể khác nhau.
Về vấn đề lí thuyết tên riêng, nhiều nhà khoa học châu Âu, châu Mĩ đã có rất nhiều công trình, bài viết ngay từ thế kỉ XVII. Trong công trình Nhân danh học Việt Nam (2013), tác giả Lê Trung Hoa (đã dẫn theo Lebel, Paul, Les noms de personnes en France, Pari, PUF, 1968) đã điểm tình hình nghiên cứu về tên người trên thế giới. Ông cho biết “ở các nước Âu - Mĩ, chẳng hạn như ở Pháp, Nhân danh học hình thành dần qua hàng chục tập sưu tầm về tên người, như của Mabillon (1681), E. Đến giữa thế kỉ XIX, phương pháp duy lí nghiên cứu được khẳng định với R.
Mowat (1868) và với A. Franklin (1875) qua cuốn từ điển tên người đầu tiên Dictionnaire des noms, surnoms et pseudonymes latins de l’histoire littéraire 10 du moyen age, trong đó có nhiều tên bằng tiếng Pháp và tiếng Provence. Dauzat xuất bản cuốn Les noms de famille de France và Dictionnaire étymologique de noms de famille et prénoms de France. Với công trình này, tác giả đã ghi một cái mốc quan trọng cho ngành nhân danh học ở Pháp.
Từ đó đến nay, hàng trăm công trình nghiên cứu về tên người tiếp tục được ra đời ở trung ương và địa phương của nước Pháp”. Đồng thời, cũng chính trong công trình của mình, tác giả Lê Trung Hoa còn nhắc tới hàng loạt các học giả nước ngoài với những công trình khác như: Lower (1875) với English surnoms, Gupy (1890) với Homes of family in Great Britain, Samuel Halkett & John Laing với Dictionary of anonymes in Inglish literature. Hoặc như ở Bỉ thì Van Hoorebeke (1876) với công trình Etude sur l’origine des noms patronimiques flamands. Còn ở Đức thì lại có C.
Angermann (1868) với Die einstaemmige Wortbiding maenlicher, trong khi ở Bồ Đào Nha có J.Leite de Vasconcellos (1928) với Antroponimica Portuguesa, thì ở Hoa Kì lại có Wiliam Cusching với công trình Intials and Pseudonymes, a ditonary of literature disguses. Và ở Trung Quốc (1949) lại có Trung Quốc nhân danh đại từ điển. Bên cạnh đó về sau còn có nhiều tác phẩm nghiên cứu về nhân danh như: Gardiner, A. [132] với công trình The problem of proper name (Vấn đề tên riêng) khi các tác giả này bàn đến vấn đề lí thuyết chung về tên riêng.
Hoặc một số học giả Nga như Beletskij, A. [122] trong công trình Từ vựng học và lí thuyết tên riêng, còn tác giả Ufimtseva, A. [133] lại bàn riêng về tên riêng từ vựng học. Ở Liên Xô còn có cả tạp chí riêng về tên riêng.
Trong những công trình nghiên cứu của mình, các học giả đều bàn về vấn đề nguyên lí cấu tạo tên riêng, ngữ nghĩa tên riêng, vai trò của tên riêng. Sở dĩ tên riêng (đặc biệt là tên riêng chỉ người) thu hút được sự chú ý của nhiều học 11 giả vì nó liên quan trực tiếp đến tên gọi cụ thể của con người trong xã hội mà cái tên riêng chỉ người đó không phản ánh một lớp hạng cụ thể nào mà chỉ định danh một sự vật cụ thể, nhất định, duy nhất và cá biệt. Nó cũng được quan tâm bởi tên riêng chỉ người cũng là một đơn vị ngôn ngữ, một tín hiệu bao gồm hai mặt âm và nghĩa. Mặt khác, chính tên người không chỉ tồn tại và phát triển theo quy luật của ngôn ngữ mà thậm chí lại có quy luật của riêng của nó ở mỗi dân tộc và nền văn hóa của mỗi quốc gia cụ thể.
Tình hình nghiên cứu tên riêng chỉ người ở Việt Nam Ở Việt Nam, trước đây đã từng có một vài cuốn sách ghi chép nhân danh phục vụ cho công tác thống kê của chế độ phong kiến vào thời nhà Nguyễn. Đó là các cuốn sách, như: Đại Việt lục triều đăng khoa lục của Nguyễn Hoàn (1779) hay Quốc triều đăng khoa lục (1894) của Cao Xuân Dục (bản dịch của Lê Mạnh Liêu, Nxb. Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, 1962), hoặc cuốn Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục (bản dịch của Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Thị Lâm, Nxb. TP Hồ Chí Minh, 1993).
Cũng phải kể đến công trình Việt Nam danh nhân từ điển (1972) của Nguyễn Huyền Anh. Đây là một cuốn từ điển ghi chép tên riêng chứ chưa có nghiên cứu về lí luận nhân danh. Cùng dạng với nó, còn có thể kể đến hàng loạt những cuốn sách có dạng như từ điển nhân danh. Chẳng hạn, đó là công trình Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn (Huế, 2000) do tập thể tác giả Phạm Đức Thành Dũng và Vinh Cao chủ biên.
Đây là một công trình nghiên cứu và tập hợp các danh nhân tiến sĩ triều Nguyễn từ năm 1822 (năm Minh Mạng thứ ba) đến năm 1919 (là kì thi cuối cùng của triều Nguyễn do ảnh hưởng của Nho học). Cùng dạng với các từ điển nhân danh ở trên, còn có thể kể đến công trình Từ điển chính tả tên người nước ngoài (1995) do Nguyễn Như Ý chủ biên đã tập hợp khoảng 6.000 tên người nước ngoài. Đây cũng là một tài liệu đáng lưu ý để tham khảo khi phiên chuyển tên chính danh dân tộc thiểu số ở 12 Việt Nam nói chung, đặc biệt với tên chính danh của người Mnông nói riêng sang tiếng Việt (trên chữ Quốc ngữ). Từ những năm 1930 - 1945 của thế kỷ XX, vấn đề nghiên cứu tên người với tư cách là một ngành khoa học chuyên biệt ở nước ta gắn liền với tên tuổi của các tác giả như Phan Khôi (1930), Nguyễn Bạt Tụy (1945).
Vào những năm 50 của thế kỷ XX, vấn đề tên người Việt đã bắt đầu thu hút sự chú ý của các nhà khoa học, trong đó tiêu biểu là tác giả Đào Văn Hội (1951). Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu của các tác giả ở thời kỳ này mới chỉ là những phác thảo hay ý kiến đề xuất về một vài lĩnh vực của tên người như: lịch sử hình thành của tên họ người Việt, lý do đặt tên, sự biến đổi của tên gọi,… Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh). Trong công trình nghiên cứu năm 1967, Hồ Hữu Tường đã có ý kiến đề xuất “về sự cần thiết của khoa nhân danh học Việt Nam”. Nhưng chỉ đến những năm 70 của thế kỷ XX, vấn đề tên người ở Việt Nam (mà chủ yếu là tên người Việt (Kinh)) mới thực sự trở thành đối tượng quan tâm của giới chuyên môn.
Năm 1973, do sự bức xúc về vấn đề chính tả tiếng Việt nên đã có khá nhiều ý kiến tham gia sôi nổi xung quanh vấn đề cách viết hoa tên riêng. trong đó có Lê Xuân Thại, Nguyễn Văn Thạc, Lê Anh Hiền,… và được tác giả Phi Tuyết Hinh (một cán bộ ở Viện Ngôn ngữ học) tổng kết vấn đề viết hoa và chính tả trong hai số tạp chí Ngôn ngữ (1973). Dù đứng trên quan điểm nào thì hầu hết các ý kiến cũng đề cập ít nhiều tới một số đặc trưng ngôn ngữ học của tên riêng, nhất là việc miêu tả thành phần cấu tạo của chúng. Còn như Phạm Tất Thắng [79; tr.
4] trong luận án của mình khi nói về vai trò của việc nghiên cứu tên người thì tác giả lại cho rằng: “…việc làm rõ bản chất ngôn ngữ học của lớp ký hiệu tên người sẽ đem lại những lợi ích vượt ra khỏi khuôn khổ của ngôn ngữ học”. 13 Cho đến nay, mặc dù số lượng các công trình nghiên cứu về tên người ở Việt Nam đã xuất hiện khá nhiều song vẫn còn ít các công trình chuyên sâu về vấn đề đặc điểm của lớp tên riêng chính danh chỉ người. Hơn nữa, phần lớn các công trình nêu trên đều tập trung chủ yếu vào việc khảo sát, miêu tả các đặc trưng ngoài ngôn ngữ học của lớp ký hiệu tên riêng xuất phát từ bình diện sử học, dân tộc học… Ở Việt Nam, việc nghiên cứu tên người chủ yếu xuất phát từ các bình diện sử học, dân tộc học, xã hội học, ngôn ngữ học.