CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐÈ TÀI, BOI CANH HÌNH THÀNH QUAN DIEM VA CO SO LY LUAN VE SAI LECH XA HOI 1. Tổng quan nghiên cứu đề tài 1. Khái lược các quan điểm và lý thuyết về hành vi sai lệch. Trong lịch sử khoa học tổn tại rất nhiều quan điểm, lý thuyết, cách tiếp cận với hành vi sai lệch.
Việc nghiên cứu lịch sử hệ thống các quan điểm và lý thuyết sẽ giúp hiểu rõ sự hình thành, nội dung khái niệm, nguyên nhân của sai lệch và tích cực tìm kiếm những cơ chế thích hợp dé ngăn ngừa và phòng chống chúng. Hành vi sai lệch cũng như tội phạm hình thành cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người, song ở Thời kỳ nguyên thủy chưa thé xuất hiện những tư tưởng quan tâm đến những sai lệch và tội phạm, bởi một lẽ đơn giản con người đang ở thời kỳ sơ khai, mông muội, trí tuệ chưa phát triển, nhận thức còn yếu kém, nên chưa đủ sức nhận ra va phân biệt những hành vi lệch lạc, mặc dù, như đã nói ở trên, chúng vẫn tồn tại xung quanh con người. Nhiệm vụ chính của con người trong thời kỳ này là đấu tranh với thiên nhiên, với tự nhiên dé sống, đề tồn tại. Có thé nói, sai lệch trong xã hội được xem xét và nghiên cứu cùng với sự xuất hiện của xã hội học.
Tuy nhiên vấn đề này đã được các tác giả cô điển quan tâm sớm hơn. Một số nhà nghiên cứu cho rằng xã hội học sinh ra từ trong lòng của triết học cô điển, và trong điều khang định này xác định một sự that. Cac tac gia cô điển đã bắt đầu phân tích một cách khoa học bản chất, nguồn gốc, các hình thái biểu hiện của của hiện tượng xã hội phức tạp này. Thời cỗ đại Hi Lạp hay 12 còn gọi Giai đoạn xã hội chiếm hữu nô lệ, lần đầu tiên trong lịch sử đã xuất hiện tư tưởng đấu tranh với hành vi sai lệch và tội phạm của các nhà triết học cô điển, mà đại diện tiêu biểu là Platon và Arisfofe, phan ánh qua lăng kính các quan thuyết triết học của họ.
Cả hai nhà triết học đều coi tội phạm như là bệnh tật trong tâm linh của những người thực hiện hành vi đó, tội phạm như là bệnh tật của Nhà nước. Và theo họ, chính Nhà nước chứ không phải ai khác phải có trách nhiệm chữa trị bệnh tật này, bằng cách ban hành các đạo luật. Với những tư tưởng liên quan đến tội phạm hai ông được coi là những người đặt nền tảng đầu tiên cho việc nghiên cứu những vấn đề đấu tranh với tội phạm và sai lệch trong xã hội. Plafon (427-347 trước CN) — nhà triết học duy tâm khách quan, nổi tiếng với “Học thuyết về ý niệm”.
Ông cho rằng, các đạo luật ban hành phải có tác động kiềm chế, khắc phục các nguyên nhân thúc đây các hành vi phạm tội. Platon cũng nói đến tư tưởng về sự tác động tâm lý đối với đối với những người có thiên hướng phạm tội. Đặc biệt, Platon cho rằng trong đấu tranh với tội phạm cần phải nghĩ về tương lai, chứ không phải về quá khứ. Đây là tư tưởng lớn về dự báo tội phạm mà trải qua hàng trăm năm sau mới được mọi người chú ý.
Aristote (384 — 322 trước CN) - nhà triết học Hi Lạp nỗi tiếng, bộ óc bách khoa trong số các nhà tư tưởng cổ đại Hi Lạp. Aristote cho rằng, cưỡng chế về tâm ly có thé phòng ngừa được tội phạm, vì rằng đạo luật cần phải giúp cho tinh thần thống trị được thể xác và lý trí thống trị được bản tính. Aristote nhìn thấy một trong những nguyên nhân co bản của các hành vi sai lệch và tội phạm là thói quen và sở thích hư hỏng của con người mâu thuẫn với lý trí hoặc những ham mê, dục vọng khủng khiếp trội hơn lý trí. Aristote từng phát biểu rằng, những điều bất hạnh là những kiểu hành vi được thực hiện không có chủ tâm độc ác và ý định xấu xa, những điều lầm lạc là những hành vi được thực hiện có ý thức, 13 nhưng không phải là hậu quả của ý đồ độc ác, còn những hành vi sai trái đó là những hành vi diễn ra một cách chủ tâm và là hậu quả của sự lệch lạc.
Quan điểm thần học-tôn giáo đối với hành vi lệch lạc là một phần không thé tách rời của thé giới quan tôn giáo thống trị vào Thời Trung kỷ. Chúa Trời và Ác quỷ là thé hiện của điều Thiện và điều Ác. Họ chống đối lẫn nhau và tuyệt đối không thé dung hòa với nhau. Loại sai lệch chính yếu không thé tránh khỏi — là tà giáo, tà đạo, còn kẻ tội phạm nguy hiểm nhất — chính là kẻ tà đạo.
Những người thuộc số này là những người không có niềm tin tôn giáo, không chia xẻ những quan điểm giáo điều cơ bản của Thiên chúa giáo. Tội lỗi của họ là phủ nhận thần thánh, xóa bỏ thần thánh ra khỏi tầng bậc đắng cấp nhà thờ. Theo quan điểm này, người thiện đó là người có đạo, theo đạo, sùng đạo, tin đạo, còn người ác là kẻ vô đạo, ngoại đạo, không theo đạo. Thời kỳ Phục Hưng Thế kỷ XV gắn liền với tên tuổi của những nhà triết học chủ nghĩa xã hội không tưởng, mà đại diện tiêu biểu là Tomas Moore, Robert Owen va Saint Simon.
Những nhà xã hội không tưởng, dù rất gần nhau trong quan điểm triết học, song đã có những quan điểm rất khác nhau, khi quan tâm đến các van đề tội phạm. Ho gắn tội phạm với những van đề liên quan đến dau tranh giai cấp, kinh tế, giáo dục và môi trường. Tomas Moore là người đầu tiên trong thời đại Phục Hưng công khai công phan với với tinh trạng nghèo khổ của quan chúng nhân dân lao động, và ông đi đến kết luận răng dé loại bỏ các nguyên nhân của tội phạm trước hết cần phải cải tạo chế độ kinh tế của xã hội. Saint Simon coi việc giáo duc đạo đức là một trong những biện pháp thủ tiêu tội phạm và các sai lệch trong xã hội.
Con Robert Owen kết luận rằng, không nên tìm kiêm các nguyên nhân của tội phạm ở chính cá nhân người phạm tội, ma nên 14 tìm nguyên nhân ở chính môi trường trong đó con người phạm tội được hình thành, sông và tôn tại. Sự thay đổi xã hội phong kiến thành xã hội công nghiệp, sự thay đổi thế giới quan tôn giáo bằng triết học, mỹ học, đạo đức của chủ nghĩa nhân văn và tri thức đã làm xuất hiện quan điểm duy lý về hành vi sai lệch. Các đại diện tiêu biểu Thời kỳ Kỷ nguyên Ánh sáng hay còn gọi Thời kỳ Triết học Ánh sáng của Chủ nghĩa Duy vật Pháp thế ky XVII - XVIII đã hình thành nên khái niệm tội phạm như là hành vi của ý chí tự do con người, mà không phải là trò chơi trong tay của “những thế lực cao cấp”, nhưng là cá nhân hành động có ý thức và tự do trong hành vi của mình. Với quan điểm này, tội phạm chỉ là kết quả tổng hợp ý chí độc ác của những kẻ tội phạm.
Có hai nhà triết học — nhà khai sáng mà tên tudi rất được chú ý khi dành sự quan tâm của mình đối với hành vi sai lệch và tội phạm — đó là Z. Trong các tác phẩm của mình Montesquieu dé cap đến tình hình tội phạm với tư cách là một hiện tượng cá biệt, còn Beccaria thì giành sự chú ý đặc biệt đến những vấn đề của tình hình tội phạm và hình phạt đối với tội phạm. Montesquieu là tác giả của tập luận văn triết học — pháp luật nỗi tiếng “Về tinh thần của các đạo luật” được xuất bản vào giữa thế kỷ XVIII. Một luận điểm nỗi tiếng trong tác phâm của ông được đưa ra, là “nhà làm luật thông minh không han chi quan tâm đến các hình phạt đối với các tội phạm, mà chủ yếu là quan tâm về việc phòng ngừa tội phạm” [77].
Một luận điểm có ý nghĩa to lớn của Montesquieu là tội phạm và hình phạt là những hiện tượng tương đối, phản ánh các quan hệ xã hội và nội dung của chúng thường xuyên được thay đôi tùy thuộc vào các thời đại và các xã hội khác nhau. Các quan điểm của C. Beccaria thông thường đồng nhất với quan điểm của Montesquieu, khi ông di đến kết luận rằng, “phòng ngừa tình hình tội phạm sẽ 15 tốt hơn là trừng trị nó” [77]. Ông cho rằng biện pháp cơ bản của phòng ngừa tội phạm là hoàn thiện việc giáo dục, “giáo dục là biện pháp đúng đắn nhất, nhưng cũng là khó khăn nhất” [77].
Với sự phát triển mạnh mẽ của các khoa học tự nhiên, quan điểm Sinh học và Nhân chủng học đã có những đóng góp của mình vào cách định nghĩa mới về sai lệch và tội phạm. Bác sĩ tâm thần và nhà tội phạm học người Italia Cesare Lombroso đã đưa ra quan điểm về việc tồn tại một kiểu người đặc biệt, có khuynh hướng đến việc thực hiện tội phạm do có những dấu hiệu sinh học được xác định. Từ quan điểm của lý thuyết nhân chủng học, tội phạm được xác định như là tổng hợp của các tội lỗi được thực hiện bởi những người — những kẻ tội phạm bam sinh có khuynh hướng mang tính sinh học đối với việc thực hiện tội phạm. Lombroso tuyên bố rằng, người ta không trở thành kẻ tội phạm, người ta sinh ra thành kẻ tội phạm.
Kẻ tội phạm bam sinh dé dang phân biệt với những người khác theo dáng vẻ bên ngoài. Lombroso đã chỉ ra một loạt những dấu hiệu hình thé bên ngoài của kẻ tội phạm, những dấu hiệu, theo Lombroso, chỉ có ở “những kẻ tội phạm, những tên moi ro và loài khi đột”. Sheldon, nhà nhân chủng học người Mỹ, đã cố gắng tìm ra mối liên hệ giữa các hành vi cá nhân, trong đó có hành vi sai lệch và tội phạm, với các kiểu loại cơ thé (type of body) con người. Ông đã chỉ ra một kiểu cơ thé cơ bản của con người - ông gọi là “mesomorph”, mà rat dê có hành vi phạm tội.