Luận án tiến sĩ về quản lý rủi ro cho các dự án đầu tư phát triển đô thị tại Hà Nội

Luận án tiến sĩ quản lý đô thị tập trung vào quản lý rủi ro cho các dự án đầu tư phát triển đô thị tại Hà Nội, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

168
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO CHO DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TẠI HÀ NỘI

1.1. Giới thiệu chung về rủi ro, quản lý rủi ro trong lĩnh vực xây dựng

1.2. Rủi ro trong lĩnh vực xây dựng

1.3. Quản lý rủi ro trong lĩnh vực xây dựng

1.4. Thực trạng về quản lý rủi ro cho dự án đầu tư phát triển đô thị tại Hà Nội

1.5. Tình hình triển khai các dự án đầu tư phát triển đô thị tại Hà Nội

1.6. Rủi do cho dự án đầu tư phát triển đô thị tại Hà Nội

1.7. Nguyên nhân gây rủi ro cho các dự án đầu tư phát triển đô thị

1.8. Thực trạng về quản lý rủi ro cho dự án giao thông đường bộ đô thị tại Hà Nội

1.9. Đặc điểm của dự án giao thông đường bộ đô thị tại Hà Nội

1.10. Tình hình triển khai các dự án giao thông đường bộ đô thị tại Hà Nội

1.11. Tiến độ triển khai các dự án giao thông đô thị tại Hà Nội

1.12. Nguồn vốn thực hiện các dự án giao thông đường bộ đô thị tại Hà Nội

1.13. Khó khăn, hạn chế trong các dự án giao thông đường bộ đô thị tại Hà Nội

1.14. Rủi ro cho dự án dự án giao thông đường bộ đô thị tại Hà Nội

1.15. Các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan tới đề tài luận án

1.16. Các nghiên cứu trên thế giới

1.17. Các nghiên cứu tại Việt Nam

1.18. Những vấn đề cần nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO CHO CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ

2.1. Các vấn đề về dự án đầu tư phát triển đô thị

2.2. Khái niệm, phân loại

2.3. Các giai đoạn của dự án đầu tư phát triển đô thị

2.4. Các bên tham gia dự án đầu tư phát triển đô thị

2.5. Dự án giao thông đường bộ đô thị

2.6. Quản lý rủi ro cho các dự án đầu tư phát triển đô thị

2.7. Phân loại rủi ro

2.8. Mục đích quản lý rủi ro

2.9. Quy trình quản lý rủi ro

2.10. Các quy định liên quan tới quản lý rủi ro cho các dự án đầu tư phát triển đô thị

2.11. Các văn bản pháp luật

2.12. Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn

2.13. Kinh nghiệm quản lý rủi ro một số nước trên thế giới và Việt Nam

2.14. Kinh nghiệm quản lý rủi ro trong dự án giao thông đường bộ tại Anh

2.15. Kinh nghiệm quản lý rủi ro trong dự án giao thông đường bộ tại Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: XÁC ĐỊNH, PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ RỦI RO CHO CÁC DỰ ÁN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ ĐÔ THỊ TẠI HÀ NỘI

3.1. Kết quả phỏng vấn chuyên gia, điều tra khảo sát

3.2. Phỏng vấn chuyên gia

3.3. Điều tra khảo sát

3.4. Xác định rủi ro cho các dự án giao thông đô thị tại Hà Nội

3.5. Tổng hợp rủi ro từ các nghiên cứu đã thực hiện

3.6. Xác định rủi ro bằng phương pháp biểu đồ xương cá

3.7. Phân tích số liệu xác định rủi ro

3.8. Kết luận về các rủi ro cho dự án giao thông đường bộ đô thị tại Hà Nội

3.9. Phân tích, đánh giá rủi ro cho các dự án giao thông đường bộ đô thị tại Hà Nội

3.10. Phân nhóm rủi ro theo phương pháp ma trận khả năng – tác động

3.11. Phân tích, đánh giá rủi ro

3.12. Đánh giá tương quan giữa các nhóm chủ thể

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO CHO CÁC DỰ ÁN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ ĐÔ THỊ TẠI HÀ NỘI

4.1. Giới thiệu chung

4.2. Quan điểm đề xuất

4.3. Quản lý rủi ro toàn diện

4.4. Rủi ro được quản lý bởi bên có khả năng quản lý rủi ro tốt nhất

4.5. Định hướng giải pháp phản ứng với rủi ro

4.6. Giảm thiểu thấp nhất ảnh hưởng của rủi ro tới dự án và cộng đồng

4.7. Giải pháp chung

4.8. Kế hoạch công việc dự đoán rủi ro

4.9. Áp dụng khoa học và công nghệ trong quản lý rủi ro

4.10. Giải pháp ứng phó các rủi ro nguy hiểm

4.11. Giải pháp về nhân lực của nhà thầu

4.12. Giải pháp nâng cao năng lực quản lý của CĐT/BQLDA

4.13. Giải pháp về thiết kế

4.14. Giải pháp về quá trình thi công

4.15. Giải pháp về thanh toán

4.16. Giải pháp về mặt bằng thi công

4.17. Giải pháp điều phối và quản lý tiến độ

4.18. Giải pháp về an toàn lao động

4.19. Giải pháp ứng phó sự thay đổi cơ chế, chính sách pháp luật trong lĩnh vực xây dựng

4.20. Giải pháp về thủ tục hành chính

4.21. Giải pháp ứng phó biến động giá cả, thị trường

4.22. Giải pháp về cộng đồng dân cư

4.23. Bàn luận những vấn đề nghiên cứu trong luận án

4.24. Rủi ro cho các dự án giao thông đường bộ đô thị tại Hà Nội

4.25. Quá trình quản lý rủi ro cho các dự án giao thông đường bộ đô thị tại Hà Nội

4.26. Giải pháp quản lý rủi ro cho dự án giao thông đường bộ đô thị tại Hà Nội

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý rủi ro cho dự án đầu tư phát triển đô thị tại Hà Nội

Quản lý rủi ro (quản lý rủi ro) cho các dự án đầu tư phát triển đô thị tại Hà Nội là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng. Các dự án này thường gặp phải nhiều rủi ro, từ chất lượng công trình đến an toàn lao động. Việc nhận diện và quản lý các rủi ro này không chỉ giúp bảo vệ lợi ích của các bên liên quan mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững cho đô thị. Theo nghiên cứu, gần như 100% dự án đầu tư phát triển đô thị tại Hà Nội đều phải đối mặt với các rủi ro lớn hoặc nhỏ. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc xây dựng một hệ thống quản lý rủi ro hiệu quả, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến dự án và cộng đồng.

1.1. Rủi ro trong lĩnh vực xây dựng

Rủi ro trong lĩnh vực xây dựng bao gồm nhiều yếu tố như thời tiết, chất lượng vật liệu, và sự thay đổi trong quy định pháp luật. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến tiến độ và chi phí của dự án. Việc phân tích rủi ro là cần thiết để xác định các yếu tố có thể gây ra sự cố trong quá trình thi công. Các nhà quản lý cần phải có chiến lược rõ ràng để ứng phó với những rủi ro này, từ đó đảm bảo rằng dự án được thực hiện đúng tiến độ và trong ngân sách đã định.

1.2. Thực trạng quản lý rủi ro tại Hà Nội

Thực trạng quản lý rủi ro cho các dự án đầu tư phát triển đô thị tại Hà Nội cho thấy nhiều hạn chế. Các quy định hiện hành chủ yếu tập trung vào việc xử lý sự cố sau khi xảy ra, mà chưa chú trọng đến việc phòng ngừa. Điều này dẫn đến việc các rủi ro thường xuyên tái diễn trong các dự án. Cần có một hệ thống quản lý rủi ro toàn diện hơn, bao gồm việc đánh giá và phân tích rủi ro ngay từ giai đoạn lập kế hoạch dự án.

II. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rủi ro

Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro cho các dự án đầu tư phát triển đô thị bao gồm các khái niệm, phân loại và quy trình quản lý rủi ro. Việc hiểu rõ các giai đoạn của dự án và các bên tham gia là rất quan trọng để xác định các rủi ro tiềm ẩn. Các phương pháp quản lý rủi ro như phân tích ma trận khả năng – tác động và biểu đồ xương cá được áp dụng để đánh giá và xử lý rủi ro một cách hiệu quả. Những kinh nghiệm từ các nước phát triển cũng có thể được áp dụng để cải thiện quy trình quản lý rủi ro tại Việt Nam.

2.1. Các giai đoạn của dự án đầu tư phát triển đô thị

Các giai đoạn của dự án đầu tư phát triển đô thị bao gồm lập kế hoạch, thiết kế, thi công và nghiệm thu. Mỗi giai đoạn đều có những rủi ro riêng, và việc quản lý rủi ro cần được thực hiện liên tục trong suốt quá trình thực hiện dự án. Đặc biệt, giai đoạn thi công thường là giai đoạn có nhiều rủi ro nhất, do sự phức tạp trong việc phối hợp giữa các bên tham gia và các yếu tố bên ngoài như thời tiết và thị trường.

2.2. Quy trình quản lý rủi ro

Quy trình quản lý rủi ro bao gồm các bước xác định, phân tích, đánh giá và xử lý rủi ro. Mỗi bước đều cần được thực hiện một cách cẩn thận để đảm bảo rằng tất cả các rủi ro tiềm ẩn đều được xem xét. Việc áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc quản lý rủi ro, từ đó giảm thiểu thiệt hại cho dự án và các bên liên quan.

III. Giải pháp quản lý rủi ro cho các dự án giao thông đường bộ đô thị tại Hà Nội

Giải pháp quản lý rủi ro cho các dự án giao thông đường bộ đô thị tại Hà Nội cần được xây dựng dựa trên các phân tích thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế. Các giải pháp này bao gồm việc nâng cao năng lực quản lý của các bên tham gia, áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý dự án, và xây dựng các quy trình làm việc rõ ràng. Đặc biệt, việc đào tạo nhân lực và nâng cao nhận thức về quản lý rủi ro là rất quan trọng để đảm bảo rằng tất cả các bên đều có thể phối hợp hiệu quả trong việc xử lý rủi ro.

3.1. Nâng cao năng lực quản lý

Nâng cao năng lực quản lý của các bên tham gia dự án là một trong những giải pháp quan trọng. Điều này bao gồm việc đào tạo nhân viên về quản lý rủi ro, cũng như xây dựng các quy trình làm việc rõ ràng. Các nhà quản lý cần phải có khả năng nhận diện và đánh giá rủi ro một cách chính xác để có thể đưa ra các quyết định kịp thời và hiệu quả.

3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin

Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý rủi ro sẽ giúp cải thiện quy trình theo dõi và đánh giá rủi ro. Các phần mềm quản lý dự án hiện đại có thể cung cấp các công cụ hữu ích để phân tích và dự báo rủi ro, từ đó giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định chính xác hơn. Việc sử dụng công nghệ cũng giúp tăng cường khả năng phối hợp giữa các bên tham gia dự án.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO CHO DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TẠI HÀ NỘI 1. Giới thiệu chung về rủi ro, quản lý rủi ro trong lĩnh vực xây dựng 1. Rủi ro trong lĩnh vực xây dựng Thế giới đã chứng kiến nhiều rủi ro diễn ra trong các ngành kinh tế, cũng như trong lĩnh vực xây dựng. Có những rủi ro chỉ xảy ra với xác suất một lần nhưng ảnh hưởng là rất lớn.

Nhưng cũng có những rủi ro xảy ra phổ biến trong các dự án. Kênh đào Panama là kỳ quan thứ tám của thế giới. Đây là kênh đào cắt ngang eo đất Panama tại Trung Mỹ, nối Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Việc xây dựng 77 km chiều dài của kênh đào đã vấp phải các trở ngại, bao gồm bệnh dịch và các vụ lở đất.

Ước tính có tới 27.500 công nhân đã chết trong quá trình xây dựng kênh đào này. Mái che bằng kính ở một bể bơi tại công viên nước Transvaal ở vùng ngoại ô phía tây nam Matxcova (Nga) bị sập khiến 26 người thiệt mạng cùng hơn 100 người bị thương. Các kỹ sư đã nghĩ tới rủi ro là nhà thầu không chọn đúng vật liệu trong quá trình thi công xây dựng. Công nghệ xây dựng tiên tiến ngày càng được nghiên cứu và áp dụng, rất nhiều công trình với thiết kế phức tạp được xây dựng khắp nơi trên thế giới.

Các rủi ro được quan tâm một cách đặc biệt bởi các nhà QLDA. Các hệ số an toàn cho công trình luôn được cân nhắc và tính toán, chẳng hạn tiêu chuẩn Mỹ ASCE 7-2010 khi xét trên góc độ rủi ro xảy ra đã phân cấp các công trình theo 4 cấp nguy hiểm. Trong hệ thống tiêu chuẩn của Nga, để phòng ngừa các trường hợp gây rủi ro, đã sử dụng hệ số tầm quan trọng như một yêu cầu bắt buộc thi thực hiện dự án xây dựng. Tuy vậy, các rủi ro vẫn tiếp tục xảy ra, minh chứng như các rủi ro xảy ra tại Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc trong thời gian gần đây.

Công trình phục vụ thế vận hội 2016, dài gần 4 km và rộng 2,5 mét khánh thành tháng 1/2016, với nguồn vốn đầu tư xây dựng gần 13 triệu USD đã bị sóng đánh gãy. Rủi ro này đã khiến hai người thiệt mạng. Tại Hàn Quốc vụ sập công trình xây dựng tuyến tàu điện ngầm ở thành phố Namyangju, gần thủ đô Seoul, Hàn Quốc đã khiến ít nhất 4 công nhân thiệt Luận án Tiến sĩ Quản lý đô thị 24 mạng và 10 người khác bị thương. Nguyên nhân khiến công trình xây dựng đổ sụp là do một vụ nổ bình khí oxy.

Trung Quốc, ngày 13/4/2016 cũng xảy ra vụ sập cần cẩu tại một công trường xây dựng tại miền Nam Trung Quốc làm 12 người thiệt mạng. Rủi ro thiên nhiên gió giật mạnh trong cơn bão có kèm theo sấm sét đã gây nên thảm kịch này. Điều đó cũng cho thấy, ngay cả khi áp dụng công nghệ xây dựng hiện đại thì các rủi ro vẫn xảy ra từ những nguyên nhân khách quan khó ngờ tới. Tại Việt Nam khi hội nhập kinh tế, các dự án xây dựng tăng nhanh với quy mô lớn và độ phức tạp về công nghệ.

Hàng loạt các rủi ro xảy ra trong các dự án đầu tư phát triển đô thị mà hậu quả để lại nặng nề. Rủi ro xảy ra dẫn tới sập cầu Cần Thơ năm 2007 đã làm cho các nhà quản lý của dự án bàng hoàng trước những thương vong về người. Vấn đề rủi ro khi đó được quan tâm và tìm hiểu kỹ lưỡng. Một công ty của Nhật Bản đã thực hiện nghiên cứu rủi ro để tìm hiểu nguyên nhân.

Hiện nay nguyên nhân do lún lệch của hai hàng cọc đã được chỉ ra, cầu Cần Thơ đã được xây dựng lại nhưng những ảnh hưởng của rủi ro vẫn được ghi nhận như một sự cố nghiêm trọng nhất trong lịch sử ngành cầu đường Việt Nam. Dự án đường sắt đô thị Hà Nội đang trong quá trình xây dựng nhưng gặp phải nhiều vấn đề về an toàn thi công, ô nhiễm môi trường và thậm chí xảy ra các rủi ro mất an toàn cho người tham gia giao thông. Một câu hỏi được đặt ra là có những rủi ro nào tiềm ẩn trong dự án này? Có thể nói khi các dự án xây dựng ngày càng nhiều, càng ồ ạt như hiện nay ở các đô thị tại Việt Nam thì rủi ro đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng, buộc các nhà QLDA phải quan tâm hơn bao giờ hết. Quản lý rủi ro trong lĩnh vực xây dựng QLRR và QLDA chuyên nghiệp đang là một xu hướng nghiên cứu và ứng dụng trên thế giới.

Trong lĩnh vực xây dựng, QLRR có sự phát triện chậm hơn so với một số như ngành bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, nhưng cho đến nay cũng đã đạt được các thành công rực rỡ. Hiệp hội quản lý dự án (PMI) ra đời năm 1969 tại Mỹ đánh dấu bước tiến mới trong QLDA nói chung, QLRR nói riêng. Sau khi thành lập PMI đã đóng góp vào sự thành công của rất nhiều các dự án lớn bằng việc xây dựng các tiêu Luận án Tiến sĩ Quản lý đô thị 25 chuẩn, hướng dẫn về xác định, đánh giá cũng như QLRR. Một đóng góp lớn cho thành công của QLRR trong lĩnh vực xây dựng trên thế giới phải kể đến là các nhà khoa học, đồng thời cũng chính là các nhà QLDA.

Các kinh nghiệm, các nghiên cứu của họ được tổng kết một cách rõ ràng, đầy đủ về tất cả các vấn đề liên quan tới RR và QLRR. Có thể kể ra các nhà khoa học như Martin Barnes, D F Cooper, D H MacDonald and C B Chapman, H Ren, He Zhi,….Quan điểm mới về rủi ro là RR có thể gây ra các thiệt hại, mất mát nhưng cũng có thể đem lại các cơ hội. Quan điểm này ngày càng được ủng hộ bởi các nhà khoa học trên thế giới. Nó cũng cho thấy cái nhìn lạc quan về QLRR.

Điều đó sẽ tạo đông lực cho các nhà quản lý khi thực hiện QLRR để tìm ra các cơ hội cho tổ chức của họ. Khó có thể nói chính xác thuật ngữ rủi ro được du nhập vào Việt Nam từ khi nào, cũng như QLRR bắt đầu xuất hiện như thế nào. Hồ Anh Tuấn [42] trong luận án tiến sĩ năm 1977 đã sử dụng thuật ngữ rủi ro khi nói tới các mối đe dọa về kỹ thuật công trình. Rủi ro hiểu theo Hồ Anh Tuấn là các sai lầm hay các sự cố.

QLRR bắt đầu được chú ý trong lĩnh vực xây dưng ở Việt Nam có thể được lấy dấu mốc từ năm 2007. Thời điểm năm 2007 Việt Nam chính thức hội nhập quốc tế, các ngành kinh tế được mở cửa tự do cạnh tranh phát triển. Các dự án xây dựng được tiến hành ở khắp mọi nơi và có thêm yếu tố nước ngoài: Chủ đầu tư (CĐT) nước ngoài, tư vấn nước ngoài, nhà thầu nước ngoài,…. Điều đó đã tác động tới ngành xây dựng trên 2 phương diện: - Ngành xây dựng được du nhập công nghệ xây dựng tiên tiến, học tập trình độ QLDA chuyên nghiệp.

- Đồng thời ngành xây dựng cũng chịu sức ép từ chính sự phát triển nhanh chóng và ồ ạt của các dự án đầu tư xây dựng. Các rủi ro xuất hiện với tần xuất và mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong hoàn cảnh đó, các nghiên cứu về rủi ro được tiến hành ngày càng nhiều hơn với mong muốn khắc phục được hậu quả mà rủi ro gây ra. Tuy vậy, các nghiên cứu này cũng chưa thực sự được áp dụng hiệu quả trong thực tế do các nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Quyết định 725/QĐ-BXD ngày 20/7/2016 Luận án Tiến sĩ Quản lý đô thị 26 của Bộ Xây dựng [5] về việc công nhận ban vận động thành lập Hiệp hội QLDA đầu tư xây dựng Việt Nam đã cho thấy lĩnh vực QLDA, cũng như QLRR dự án đầu tư xây dựng tại Việt Nam đang được nhìn nhận đúng vai trò của nó. Bộ Xây dựng đã ra văn bản kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp xây dựng tham gia và phát triển hiệp hội. Bằng cách này, Việt Nam có thể tham gia các hiệp hội QLDA trên thế giới, học hỏi kinh nghiệm QLDA, QLRR của các nước tiên tiến và áp dụng tại Việt Nam. Thực trạng về quản lý rủi ro cho dự án đầu tư phát triển đô thị tại Hà Nội 1.

Tình hình triển khai các dự án đầu tư phát triển đô thị tại Hà Nội Hà Nội là thành phố trực thuộc trung ương có diện tích lớn nhất cả nước từ khi tỉnh Hà Tây sáp nhập. Hà Nội nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây. Theo báo cáo kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 và kế hoạch năm 2019, tất cả 20/20 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đạt và vượt kế hoạch. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tăng 7,37%, cao hơn các năm trước (năm 2016 là 7,15%; 2017 là 7,31%); trong đó ngành dịch vụ tăng 7,23%; công nghiệp-xây dựng tăng 8,23%; nông-lâm-thủy sản tăng 3,33%.

Đến nay, trên địa bàn Thủ đô Hà Nội (sau khi mở rộng) có hơn 350 đồ án quy hoạch khu ĐTM, khu nhà ở được triển khai thiết kế. Trong đó riêng trên địa bàn Hà Nội (cũ) đã nghiên cứu lập quy hoạch trên 180 khu ĐTM và khu nhà ở với quỹ đất trên 2.500ha, trong đó có gần 80 khu đô thị và khu nhà ở đang được triển khai xây dựng. Các khu đô thị và khu nhà ở đã đem tới diện mạo mới cho Hà Nội: Khu đô thị kiểu mẫu Linh Đàm, khu đô thị Ciputra, đô thị Từ Liêm, đô thị mới Tây Hồ Tây, dự án đô thị Splendora – An Khánh,…. Luận án Tiến sĩ Quản lý đô thị 27 Hình 1.1: Tỷ lệ các loại dự án ĐTPTĐT tại Hà Nội (Nguồn: Khảo sát từ các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành xây dựng) Cùng với sự ra tăng của các khu đô thị, tốc độ xây dựng các dự án đầu tư phát triển tại Hà Nội đang phát triển mạnh mẽ, số lượng dự án thống kê trên địa bàn Hà Nội lên tới hơn 500 dự án với tổng diện tích đất quy hoạch là trên 2.

Trong năm 2018, Hà Nội đã trao quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư và giấy chứng nhận đầu tư cho 71 siêu dự án với tổng số vốn gần 400.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ