CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Nghiên cứu về thú y và hoạt động thú y 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới, lĩnh vực thú y đã được một số nhà khoa học nghiên cứu trong thời gian qua. Các công trình nghiên cứu về thú y có thể kể đến là: Tổ chức Thú y Thế giới, (2010): “Tool for the evaluation of Performance of Veterinary Services – OIE”, (khung công cụ đánh giá việc thực hiện các dịch vụ thú y, Tổ chức Thú y Thế giới) của tác giả Dr.
Eric Fermet-Quinet, Dr Marie Edan and Dr. John Stratton, xuất bản tháng 3 năm 2010 [101], theo các tác giả chất lượng của dịch vụ thú y dựa trên tập hợp các yếu tố nhằm đảm bảo tốt về đạo đức, tổ chức, luật pháp, quy trình quản lý và chuyên môn kỹ thuật. Cơ quan thú y ở mỗi quốc gia cần phải đảm bảo các nguyên tắc này, cho dù tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của quốc gia đó như thế nào. Việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này của cơ quan thú y cũng rất quan trọng nhằm thiết lập và duy trì niềm tin vào các chứng chỉ thú y quốc tế của cơ quan thú y các quốc gia khác.
Sứ mệnh của OIE là cải thiện sức khỏe và phúc lợi động vật trên toàn thế giới, các dịch vụ thú y quốc gia cung cấp cơ sở năng lực toàn cầu nhằm đạt được sứ mệnh này. Nhận thức được điều này, OIE đã phát triển lộ trình thực hiện các dịch vụ thú y, nền tảng xây dựng năng lực hàng đầu của OIE để cải thiện bền vững các cơ quan thú y ở các quốc gia. Lộ trình dịch vụ thú y trao quyền cho các cơ quan thú y ở các quốc gia bằng cách cung cấp sự hiểu biết toàn diện về điểm mạnh và điểm yếu bằng cách sử dụng một phương pháp luận nhất quán trên toàn cầu dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế. Cách tiếp cận này cung cấp một viễn cảnh bên ngoài hữu ích có thể bộc lộ những lỗ hổng, sự kém hiệu quả và cơ hội đổi mới, đồng thời cho phép các quốc gia nắm quyền làm chủ và 11 ưu tiên cải tiến hệ thống thú y của mình.
Công trình này đã nghiên cứu và khái quát chung nhất về các nội dung liên quan đến thú y, trong đó chủ yếu hoạt động thú y, vai trò của thú y giúp cải thiện sức khỏe và phúc lợi động vật. Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ, “Veterinary Medicine and Public Health at CDC” (thú y và y tế công cộng tại CDC), Lonnie J. King, DVM Office of the Director, National Center for Zoonotic, Vector- Borne, and Enteric Diseases, (2006) [121]. Theo tác giả mọi người dễ dàng liên kết vai trò của thú y và thú y tư nhân, tập trung vào vật nuôi và động vật trang trại, nhưng quy mô và đóng góp thực sự của thú y rộng hơn nhiều và phản ánh nhu cầu xã hội ngày càng mở rộng cũng như những thách thức đương đại đối với sức khỏe động vật và con người cũng như môi trường.
Thú y có nhiệm vụ nghiên cứu y sinh học; quản lý hệ sinh thái; sức khỏe cộng đồng; hệ thống lương thực và nông nghiệp và chăm sóc động vật nuôi, động vật hoang dã, động vật thực phẩm. Vai trò của thú y phản ánh sự đánh giá cao đối với nhiều đóng góp này. Tác giả đã đề cập đến vai trò của thú y góp phần cải thiện sức khỏe con người và cộng đồng bằng cách cải thiện hệ thống nông nghiệp và thực phẩm, thúc đẩy nghiên cứu y sinh và y học so sánh, ngăn ngừa và giải quyết các bệnh lây truyền từ động vật sang người, tăng cường sức khỏe môi trường và hệ sinh thái, đồng thời giúp quản lý các thách thức về sức khỏe cộng đồng. Tổ chức Y tế Thế giới, Tổ chức Thú y Thế giới, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc, 2021, “A key role for veterinary authorities and animal health practitioners in preventing and controlling neglected parasitic zoonoses”, [130] (Vai trò quan trọng của thú y và những người hành nghề thú y trong việc ngăn ngừa và kiểm soát bệnh ký sinh trùng).
Theo các tổ chức trên, nhận thức được gánh nặng bệnh tật và tầm quan trọng của cách tiếp cận đa ngành để kiểm soát và loại bỏ các bệnh ký sinh trùng lây truyền sang người. Các tổ chức đã đề ra mục tiêu, các biện pháp can thiệp cần thiết để giảm thiểu tối đa tác động đến những người và khu vực bị ảnh hưởng do bệnh trên. 12 Từ đó, đã đề ra các biện pháp cụ thể để triển khai thực hiện bao gồm: Giám sát để xác định bệnh từ động vật sang người; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác thú y, can thiệp sức khỏe; lập kế hoạch và thực hiện các can thiệp y tế công cộng để kiểm soát, xác nhận các bệnh truyền nhiễm từ động vật; phối hợp với các ngành; nâng cao nhận thức cộng đồng; tư vấn và triển khai an toàn sinh học. Các biện pháp an toàn sinh học khác nhau có liên quan tùy thuộc vào loài động vật liên quan, loại lĩnh vực, hoàn cảnh địa phương và rủi ro như sự hiện diện của các dịch bệnh trên địa bàn; cung cấp lời khuyên về quản lý tốt động vật và tập quán chăn nuôi; xây dựng các biện pháp phòng, chống khả thi; truyền thông trong ngành thú y; liên thông với các ngành khác; chính sách phù hợp.
Bài viết trên bước đầu đã nêu vai trò của thú y cùng với đó là đề xuất các hoạt động thú y triển khai phù hợp với điều kiện mỗi quốc gia. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc, Food and Agriculture Organization of the United Nations, (2019) “Guidelines for strengthening animal health services in developing countries”,(Hướng dẫn tăng cường dịch vụ thú y ở các nước đang phát triển) [129]. Theo các tổ chức trên việc kiểm soát dịch bệnh động vật, thúc đẩy và bảo vệ sức khỏe động vật là những thành phần thiết yếu của bất kỳ chương trình chăn nuôi và sản xuất động vật hiệu quả nào. Mặc dù có những tiến bộ kỹ thuật đáng chú ý trong chẩn đoán, phòng ngừa và kiểm soát bệnh động vật, tình trạng sức khỏe động vật trên khắp thế giới đang phát triển nhìn chung vẫn còn kém, gây thiệt hại kinh tế đáng kể và cản trở năng suất chăn nuôi.
Ở các nước đang phát triển, các dịch vụ thú y được thành lập với mục tiêu chính là kiểm soát các bệnh lây nhiễm và truyền nhiễm chính, chẳng hạn như bệnh lở mồm long móng, dịch tả lợn và viêm phổi màng phổi truyền nhiễm, cũng như các bệnh ký sinh trùng, chẳng hạn như bệnh sán lá gan và các bệnh do ve gây ra. Đây rõ ràng là ưu tiên hàng đầu, vì việc kiểm soát các bệnh này là điều kiện tiên quyết cho bất kỳ chương trình phát triển chăn nuôi thành công nào. Cùng với mối quan tâm về phát triển 13 kinh tế bền vững hiện nay, người ta đang quan tâm nhiều hơn đến các bệnh khác ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi như bệnh giun sán, bệnh dinh dưỡng, rối loạn sinh sản. Việc kiểm soát thành công dịch bệnh ban đầu phụ thuộc vào sự nhận biết chính xác và kịp thời cũng như sự hiện diện của các khả năng chẩn đoán hợp lý dựa trên các liên kết làm việc hiệu quả giữa các phòng thí nghiệm và dịch vụ thực địa.
Các trường hợp khẩn cấp do sự bùng phát của các bệnh truyền nhiễm lớn cho thấy sự cần thiết phải thiết lập, củng cố và cải thiện các dịch vụ chẩn đoán đó. Đồng thời, cần đặc biệt chú ý đến việc phát triển một hệ thống thông tin dịch bệnh động vật hiệu quả. Bài viết trên đã khẳng định vai trò quan trọng của thú y cùng với các nội dung cơ bản tăng cường dịch vụ thú y và hoạt động thú y nhằm kiểm soát dịch bệnh phát triển chăn nuôi. Theo tác giả, về tổ chức thú y ở Pháp, cũng giống như ở nhiều nước, ở trung ương có Cục Thú y nằm trong Bộ Nông nghiệp, quyết định chính sách quốc gia.
Dưới địa phương có Chi cục thú y tỉnh làm nhiệm vụ thực hiện, kiểm tra, kiểm soát mọi mặt về thú y trong tỉnh, mỗi tỉnh đều có phòng xét nghiệm các bệnh phẩm thú y. Nhiệm vụ thẩm quyền của thú y là quản lý sức khỏe động vật, theo dõi dịch bệnh, phòng trị bệnh gia súc gia cầm, động vật cảnh. Nhiệm vụ quan trọng không kém là bảo đảm an toàn thực phẩm cho người. Nội dung bài viết của tác giả đã đề cập đến vai trò rất quan trọng của thú y trong việc bảo vệ sức khỏe động vật.
Mitchell, Robyn Alders, Fred Unger, Nguyễn Viết Hùng, Lê Thị Huyền Trang (2020): The challenges of investigating antimicrobial resistance in Vietnam - what benefits does a One Health approach offer the animal and human health sectors, (những thách thức trong việc điều tra kháng kháng sinh ở Việt Nam - cách tiếp cận Một sức khỏe mang lại lợi ích gì cho thú y và sức khỏe con người), BMC Public Health [124]. Theo đó, nghiên cứu này cho thấy rằng có khả năng tăng cường hợp tác đa ngành giữa lĩnh vực sức khỏe 14 động vật và con người bằng cách xây dựng dựa trên các mạng lưới không chính thức hiện có. Dựa trên những kết quả này, các tác giả đề xuất một cách tiếp cận toàn diện đối với truyền thông đa ngành được hỗ trợ bởi các hoạt động của mạng lưới chính phủ để tạo điều kiện hợp tác và tạo ra nhận thức và sự tham gia liên ngành. Các chủ đề liên quan đến năng lực chẩn đoán cho thấy cả hai lĩnh vực đang đối mặt với những thách thức để thực hiện các cuộc điều tra về kháng kháng sinh.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã chỉ ra rằng nhu cầu tăng cường thú y là rất quan trọng. Công trình của các tác giả nghiên cứu chủ yếu đến công tác sử dụng thuốc thú y, những yếu tố ảnh hưởng của kháng kháng sinh đây là một trong những nội dung liên quan đến hoạt động thú y đang được quan tâm trong giai đoạn hiện nay., Hanvoravongchai P (2004): Emerging infectious diseases in southeast Asia: Regional challenges to control. Theo các tác giả, nhiều khu vực đang phát triển ở trên thế giới, dịch vụ thú y ở một số nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam các trang trại an toàn sinh học trong trang trại chăn còn thấp.