MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Việt nam là một quốc gia có hơn 3000 km bờ biển, có vùng biển rộng, có chỉ số hàng hải (Maritime Index) là 0,01, tức là trung bình 100 km đất liền có 01 km bờ biển, cao gấp 6 lần tỷ lệ này của thế giới. Hơn nữa với vị trí địa lý đƣợc tự nhiên ƣu đãi, dọc bờ biển của Việt nam có nhiều vịnh, hệ thống bán đảo giúp che chắn hầu hết các vùng ven biển. Nhiều tuyến hàng hải qua khu vực Biển Đông, trong đó có vùng biển của Việt nam là những tuyến hàng hải bận rộn nhất thế giới.
Trong những năm vừa qua, hoạt động của hệ thống cảng biển Việt Nam nói chung và dịch vụ cảng biển nói riêng đóng góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của đất nƣớc. Khối lƣợng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển hằng năm tăng bình quân 14%. Số lƣợt tàu ra vào cảng biển cũng tăng lên đáng kể. Nhu cầu phục vụ cho hàng và tàu đến cảng chính vì vậy cũng gia tăng tƣơng ứng.
Các loại dịch vụ cảng biển tăng về số lƣợng và chất lƣợng. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng nhƣ hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt đƣợc, QLNN về cảng biển và đặc biệt QLNN về dịch vụ cảng biển tại Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều yếu điểm gây khó khăn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN cảng biển. Thứ nhất về quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam chƣa đồng bộ, nơi thừa cảng, nơi thiếu cảng. Vấn đề quy hoạch, xây dựng mới các cảng biển chƣa dựa vào dự báo lƣợng hàng hóa và lƣợt tàu ra vào cảng đối với từng khu vực, từng cảng ở Việt Nam.
Thứ hai về cơ sở vật chất, kỹ thuật, máy móc, trang thiết bị xếp dỡ, công nghệ còn thiếu, yếu, lạc hậu chƣa tƣơng xứng với khối lƣợng hàng, loại hàng (chủ yếu là hàng container), lƣợt tàu, cỡ tàu lớn ra vào cảng. Dẫn tới năng suất xếp dỡ thấp, thời gian giải phóng tàu bị kéo dài, gây tốn kém cho các khách hang khi sử dụng các loại hình dịch vụ tại cảng biển. Mặt khác, cơ sở hạ tầng giao thông ở miền hậu phƣơng kết nối với cảng 1 chƣa đƣợc chú trọng đầu tƣ, nâng cấp, dẫn tới việc hàng hóa đƣa đến cảng và khỏi cảng bị ảnh hƣởng, gây ách tắc, ứ đọng thiệt hại cho các DN cảng biển, hãng tàu, khách hàng và thậm chí có thể gây ảnh hƣởng cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên vấn đề quan trọng hơn cả là hệ thống cảng biển Việt Nam hiện nay còn tồn tại rất nhiều bất cập trong việc ban hành các cơ chế, chính sách, luật chi phối đến hoạt động kinh doanh, khai thác cảng, đặc biệt liên quan đến các dịch vụ tại cảng biển.
Các văn bản luật hiện nay còn chồng chéo, chƣa phát huy đƣợc hết sức mạnh của công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nƣớc. Một số các dịch vụ hiện nay còn tồn tại độc quyền, giá dịch vụ tại cảng biển còn khá cao và hiện tƣợng phí chồng phí khá phổ biến. Mặt khác hiện nay tên gọi các loại hình dịch vụ tại cảng biển không thống nhất. Dịch vụ cảng biển đang đƣợc quy định tại nhiều các văn bản khác nhau, nhƣ Nghị định về Logistics, Nghị định 30/2014 Chính phủ, Nghị định về quản lý cảng và luồng hàng hải.
và đƣợc quản lý bởi nhiều Bộ khác nhau nhƣ Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công thƣơng và Bộ Tài chính. Hiện chƣa có văn bản luật thống nhất, quy định riêng đối với các loại hình dịch vụ cảng biển. Điều này gây khó khăn cho các nhà đầu tƣ và khai thác dịch vụ đặc biệt là các nhà đầu tƣ cảng biển nƣớc ngoài và cho các khách hàng. Mặc dù Việt Nam hiện có hệ thống văn bản luật, quy định trực tiếp hoặc gián tiếp đến dịch vụ cảng biển nhƣ Luật hàng hải Việt Nam 2005 và hiện nay là Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 có hiệu lực thi hành ngày 1.2017, cam kết khi Việt Nam là thành viên 150 của WTO (tổ chức thƣơng mại thế giới), thành viên của APEC, tham gia AFTA, hiệp định thƣơng mại Việt – Mỹ.
Tuy nhiên các văn bản này hiện nay đã tồn tại nhiều yếu điểm, bất cập và đang đƣợc cập nhật và sửa đổi. Bộ luật Hàng hải đã có hiệu lực thi hành đƣợc hơn 3 năm nhƣng nhiều Nghị định và văn bản dƣới luật chƣa đƣợc xây dựng. Ví dụ, Ban Quản lý và Khai thác cảng đã đƣợc nêu trong Bộ luật Hàng hải 2 2015, nhƣng chƣa có Nghị định và các văn bản hƣớng dẫn thi hành. Nghị định về Điều kiện kinh doanh và khai thác cảng biển cũng đƣợc ban hành.
Tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều chuyên gia, Nghị định này vẫn còn thiếu tính thực tế và chƣa phù hợp. Đặc biệt chƣa có khái niệm và phân loại dịch vụ cảng biển. Trên thế giới, nhiều nƣớc đƣa ra những quy định riêng, những văn bản pháp luật, đạo luật riêng về cảng biển nói chung trong đó có quy định riêng cho dịch vụ cảng biển hoặc những đạo luật riêng về dịch vụ cảng biển nhƣ Malaysia ban hành Port Acts (1990), Singapore với Maritime and Port Authority of Singapore Act (1997), Thailand với The Port Authority of Thailand Act (1951). Với xu hƣớng hội nhập, dần xóa bỏ độc quyền, nâng cao chất lƣợng hàng hóa dịch vụ, việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc liên quan đến dịch vụ cảng biển là rất cần thiết.
Nó phù hợp với các thông lệ, các quy tắc quốc tế, phù hợp với định hƣớng chiến lƣợc phát triển về kinh tế, xã hội, về biển, về hệ thống cảng biển của Việt Nam. Qua đó, hệ thống cảng biển Việt Nam sẽ phát triển và hội nhập hơn với thế giới, tăng khả năng cạnh tranh cho các các biển, góp phần nâng cao hiệu quả hoat động sản xuất kinh doanh của các cảng biển, giảm chi phí dịch vụ cảng biển, giảm gánh nặng đầu tƣ cho Nhà nƣớc; đóng góp vai trò to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đúng với nhận định và Nghị quyết của Đảng và Nhà nƣớc về vai trò và phát triển kinh tế biển bền vững trong thời gian tới. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu chính của luận án là hệ thống hoá cơ sở lý luận về dịch vụ cảng biển, QLNN về dịch vụ cảng biển; phân tích thực trạng và đo lƣờng tác động của QLNN đối với dịch vụ cảng biển tại Việt Nam thông qua các phƣơng pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lƣợng và các phƣơng pháp khác. Trên cơ sở đó, NCS đánh giá những điểm mạnh và những 3 hạn chế của hoạt động QLNN đối với dịch vụ cảng biển tại Việt Nam và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện nội dung QLNN về dịch vụ cảng biển tại Việt Nam trong tƣơng lai nhằm phát triển dịch vụ cảng biển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các DN cảng biển tại Việt Nam trong tƣơng lai.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: QLNN về dịch vụ cảng biển rất rộng, bao gồm nội dung, công cụ, vai trò, phƣơng pháp của QLNN về dịch vụ cảng biển. Tuy nhiên trong phạm vi luận án, NCS chỉ nghiên cứu nội dung QLNN về dịch vụ cảng biển tại Việt Nam. NCS chỉ nghiên cứu dịch vụ đối với tàu và hàng hoá tại cảng biển. Do vậy đối tƣợng nghiên cứu chính của luận án là nghiên cứu nội dung của QLNN đối với dịch vụ cảng.
Đối tƣợng cụ thể của luận án bao gồm: Cơ sở lý luận về dịch vụ cảng biển và QLNN về dịch vụ cảng biển; Thực trạng QLNN về dịch vụ cảng biển tại Việt Nam; Tác động của QLNN đối với dịch vụ cảng biển tại Việt Nam; Nghiên cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về dịch vụ cảng biển tại Việt Nam trong thời gian tới. Phạm vi nghiên cứu: - Về không gian: Luận án nghiên cứu nội dung QLNN về dịch vụ cảng biển tại các DN cảng biển ở Việt Nam. Đồng thời, luận án sẽ nghiên cứu thêm một số kinh nghiệm về QLNN đối với dịch vụ cảng biển tại một số nƣớc trên thế giới để so sánh và rút ra bài học cho Việt Nam. - Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng và tác động của QLNN đối với dịch vụ cảng biển Việt Nam trong thời gian từ 2005 đến nay.
Các giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung QLNN về dịch vụ cảng biển tại Việt Nam đƣợc áp dụng đến năm 2025 và định hƣớng đến 2030. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận án sử dụng kết hợp các phƣơng pháp nghiên cứu sau: Phƣơng pháp điều tra thống kê: Đƣợc sử dụng để thu thập các số liệu thứ cấp về khối lƣợng hàng thông qua hệ thống cảng biển, số liệu về các yếu 4 tố của dịch vụ cảng biển tại Việt Nam, các nhân tố của nội dung QLNN tác động đến dịch vụ cảng biển tại Việt Nam. Các số liệu trên đƣợc thu thập từ Tổng Cục thống kê Việt nam, Cục Hàng hải Việt Nam, các DN cảng biển Việt Nam và nƣớc ngoài. Phƣơng pháp chuyên gia: Đƣợc áp dụng khi phỏng vấn ý kiến chuyên gia lấy ý kiến về các nhân tố ảnh hƣởng đến QLNN về dịch vụ cảng biển, về các yếu tố tác động của QLNN đối với dịch vụ cảng biển tại Việt Nam cũng nhƣ các đề xuất, giải pháp hoàn thiện nội dung QLNN về dịch vụ cảng biển tại Việt Nam.
Phƣơng pháp mô hình hóa, hồi quy: Đƣợc áp dụng trong việc xây dựng mô hình, kiểm định mô hình và đánh giá tác động của QLNN đối với dịch vụ cảng biển tại Việt Nam. Ngoài ra luận án còn sử dụng phƣơng pháp phỏng vấn, thảo luận nhóm, liệt kê, so sánh, đối chiếu, tổng hợp. Chi tiết về các phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong luận án này NCS sẽ trình bày trong chƣơng 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Về mặt khoa học: Bổ sung cơ sở lý luận về dịch vụ cảng biển, nội dung QLNN về dịch vụ cảng biển tại Việt Nam.