CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu BLGĐ là một vấn đề xã hội toàn cầu, hình thức BLGĐ rất đa dạng, vượt qua ranh giới văn hóa, đẳng cấp xã hội, trình độ học vấn, thu nhập và tuổi tác. BLGĐ tác động đến mọi thành viên trong gia đình đặc biệt là người già, phụ nữ và trẻ em. Đây là vấn đề cốt lõi trong cuộc sống của xã hội loài người và là nhân tố quyết định đến sự phồn vinh, thịnh vượng của các xã hội và các quốc gia.
Chính vì vậy, vấn đề BLGĐ; PCBLGĐ được Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, các nhà khoa học, nhà quản lý đặc biệt quan tâm. Có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này nhằm đề xuất các giải pháp xử lý có hiệu quả. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này. Luận án phân tích và đánh giá nội dung của các công trình nghiên cứu, tìm ra những khoảng trống mà các nghiên cứu còn bỏ ngỏ và cơ sở lý luận có thể kế thừa.
Những công trình khoa học trong nước và nước ngoài liên quan đến bạo lực gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình 1. Những công trình nghiên cứu về các hình thức bạo lực gia đình UNICEF năm 2014 trong “Violence against Children in East Asia and the Pacific: A Regional Review and Synthesis of Finding, Strengthening Child Protection Series - Bạo lực đối với trẻ em ở Đông Á và Thái Bình Dương: Đánh giá tổng hợp khu vực về tăng cường bảo vệ trẻ em” [112] đã khẳng định BLGĐ là vấn đề xã hội đáng quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trước năm 1995, có hơn 100 quốc gia hàng năm thực hiện ít nhất 01 cuộc khảo sát về chủ đề này. Từ năm 1995 đến năm 2014, có hơn 40 quốc gia tiến hành ít nhất 02 cuộc khảo sát nhằm nhận diện xu hướng thay đổi tình trạng bạo lực phụ nữ trong gia đình.
14 Luận án tiên sĩ Quản lý công Tổ chức WHO năm 2013 trong “Global and regional estimates of violence against women: Prevalence and health effects of intimate partner violence and non-partnersexual violence- ước tính toàn cầu và khu vực về bạo lực đối với phụ nữ: Tỷ lệ và ảnh hưởng của bạo lực tình dục” [114] đã chứng minh rằng bạo lực đối với phụ nữ đang tăng đáng kể trong những năm gần đây. Ước tính có khoảng 35% phụ nữ trên toàn thế giới ít nhất 1 lần trong đời đã từng trải qua bạo lực thân thể hoặc tình dục bởi người bạn đời. Một vài quốc gia có đến 70% phụ nữ đã từng trải qua bạo lực thể xác hoặc tình dục ít nhất một lần trong đời. Có nhiều bằng chứng cho thấy phụ nữ đã trải qua bạo lực thể xác hoặc tình dục có tỷ lệ bị trầm cảm, nạo phá thai, có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn so với nhóm phụ nữ không trải qua bạo lực.
Rawlings và Roberta K. Rigsby (1994) trong “Loving to Survive – Sexrvive Terror Men’s Violence and Women’s Live - Tình yêu và sự sống sót – Sự khủng bố tình dục của đàn ông và cuộc sống của phụ nữ” [95] cũng đã phân tích thực trạng BLGĐ gắn với xã hội hiện tại như hiện tượng khủng bố về tình dục, bạo lực của đàn ông với đàn bà, các dạng thức bậc lực khác nhau trong đời sống hôn nhân, quan hệ tình dục. và khẳng định đây là sự bất bình đẳng giới trong gia đình và đề xuất đẩy mạnh các hoạt động PCBLGĐ nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người bị bạo lực và thay đổi cách nhìn để cùng nhau góp sức củng cố và phát triển các mối quan hệ gia đình tốt đẹp hơn. Nghiên cứu của Fenrich & Contesse (2008) trong “It’s not OK: New Zealand efforts to eliminate violence against women - New Zealand nỗ lực loại bỏ bạo lực đối với phụ nữ”[97], cho thấy cứ 3 phụ nữ New Zealand có 01 phụ nữ chịu BLGĐ, cho dù New Zealand đã ký cam kết quốc tế nhằm đảm bảo quyền con người của phụ nữ.
Các chương trình giải pháp PCBLGĐ của chính phủ chưa hiệu quả với cộng đồng người Maori (cộng đồng xảy ra nhiều BLGĐ) do sự khác biệt về phong tục, tập quán xã hội giữa người Maori và người Anh – chiếm phần đông dân số của New Zealand. 15 Luận án tiên sĩ Quản lý công Tại Việt Nam,“Điều tra gia đình” năm 2006 đã cho kết quả có 21,2% cặp vợ chồng đã từng xảy ra ít nhất một loại bạo lực và đối tượng bị bạo lực đa phần là người vợ [16]. Con số này tăng lên vào năm 2010 khi Tổng cục Thống kê năm 2010 có “Báo cáo nghiên cứu quốc gia về BLGĐ đối với phụ nữ”[69] cho thấy 58% phụ nữ từng kết hôn đã từng bị ít nhất 1 trong 3 loại bạo lực (thể xác, tinh thần, tình dục) trong cuộc đời. Trong một nghiên cứu “Thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp có tính đột phá nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình trong năm 2020 và giai đoạn 2012-2016” [10] Bộ VH- TT-DL thực hiện tại 4 tỉnh (Yên Bái, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hậu Giang) đã một lần nữa chứng minh: tình trạng BLGĐ, đặc biệt là BLGĐ đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện diễn ra khá phổ biến.
Trong các dạng bạo lực gia đình, bạo lực tinh thần để lại hậu quả nghiêm trọng nhất. Nạn nhân bị sang chấn tâm lý, mức độ hài lòng về cuộc sống cũng giảm khiến nạn nhân có suy nghĩ tiêu cực, thậm chí trầm cảm. Bàn về vấn đề này tác giả Nguyễn Thị Hoa (2016) trong “Sự hài lòng với cuộc sống gia đình của phụ nữ bị bạo lực gia đình”[30] và tác giả Lê Tường Lân (2017) trong “Cách ứng phó và mối quan hệ giữa cách ứng phó với mức độ sang chấn tâm lý của phụ nữ bạo lực gia đình” [38] đã nhấn mạnh công tác can thiệp hỗ trợ cần phải giúp phụ nữ tích cực tham gia hoạt động hướng đến giải quyết các vấn đề liên quan đến BLGĐ. Hạn chế cách ứng phó tập trung vào xúc cảm hay né tránh hoàn cảnh.
Bởi điều này có thể dẫn đến khả năng phát triển các triệu chứng sang chấn tâm lý nghiêm trọng hơn. Và có sự khác biệt rõ rệt về mức độ hài lòng với cuộc sống giữa nhóm phụ nữ không bị BLGĐ và nhóm bị BLGĐ. Những công trình nghiên cứu về nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình Tiếp cận từ góc độ giới, các nghiên cứu nước ngoài chỉ ra bất bình đẳng giới, sự mất cân bằng về quyền lực giữa phụ nữ và nam giới gây ảnh hưởng tới vai trò giới, các quan niệm và giá trị xã hội, làm suy giảm vai trò, vị trí của 16 Luận án tiên sĩ Quản lý công phụ nữ trong gia đình và xã hội là nguyên nhân lớn dẫn tới BLGĐ. Theo WHO (2009) trong “Changing cultural and social norms that support violence”[113], bất bình đẳng giới làm gia tăng rủi ro nam giới gây bạo lực cho phụ nữ, ngăn cản sự tìm kiếm hỗ trợ của nạn nhân bạo lực.
Nghiên cứu của Araujo và các tác giả (2000) trong “How domestic violence came to be viewed as a public issue and policy object-Bạo lực gia đình như thế nào được coi là một vấn đề công cộng và đối tượng chính sách”[93] khẳng định rằng nguyên nhân của BLGĐ là bất bình đẳng trong quan hệ quyền lực và vị trí phụ thuộc của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Ngoài ra, BLGĐ xảy ra do văn hóa bảo thủ, hạn chế về thu nhập khiến phụ nữ có vị thế kinh tế thấp hơn so với nam giới. Trong khi đó, Báo cáo “Domestic violence and gender inequality – bạo lực gia đình và bất bình đẳng giới” của Thượng Nghị viện Australia (2016)[111] chỉ ra rằng, cần lưu ý tới các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương bởi bất bình đẳng giới có tác động khác nhau tới các đối tượng phụ nữ. Nỗ lực đẩy lùi BLGĐ cần được xem xét giải quyết trong mối quan hệ bất bình đẳng về quyền lực và các hình thức bất bình đẳng giới khác.
Chính phủ Nepal “Violence against women and girl: Accesing the situation of Nepal in 2012. Kathmandu: Informal Sector Service Centre (INSEC)” (2013) [105] cũng có quan điểm tương tự. Tại Việt Nam, nguyên nhân BLGĐ chủ yếu được các nhà nghiên cứu tiếp cận và chỉ ra theo 2 hình thức chủ quan và khách quan. Luận án tổng hợp như sau: (i) Nguyên nhân khách quan Ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường là nguyên nhân được tác giả Nguyễn Thị Khoa trong “Đạo đức gia đình trong nền kinh tế thị trường” (2002) nhắc tới[37]; Sự bất cập trong hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật và nguyên nhân tập quán, quan niệm xã hội truyền thống với xu hướng ưu tiên sự hài hòa và hạnh phúc gia đình hơn quyền của người phụ nữ và bình đẳng 17 Luận án tiên sĩ Quản lý công giới được tác giả Trần Ánh Tuyết, Nguyễn Hữu Minh, Hoa Hữu Vân chỉ ra trong “Bạo lực gia đình ở Việt Nam và giải pháp phòng, chống” năm 2012[70]; Nghèo đói và tệ nạn xã tạo xung đột căng thẳng trong gia đình được tác giả Nguyễn Tử Khiêm và Nguyễn Kim Mai chứng minh trong “Bạo lực gia đình: hình thức, nguyên nhân và hậu quả”[36].
Ngoài ra hạn chế về nguồn lực tài chính cũng là một nguyên nhân được Phạm Kiều Oanh và Nguyễn Thị Khoa nhắc tới trong “Bạo lực gia đình từ góc nhìn của người nghèo”[51]. Nguyên nhân không dám đấu tranh chống BLGĐ từ hai đối tượng bị ảnh hưởng bạo lực nhiều nhất là phụ nữ và trẻ em cũng được Lý Thị Minh Hằng trong “Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia 18 Luận án tiên sĩ Quản lý công đình” [28] và Nguyễn Bá Đạt trong“Rối nhiễu tâm lý trẻ em trong gia đình có bạo lực” [22] nhấn mạnh trong luận án tiến sĩ tâm lý học. BLGĐ xảy ra do cách cư xử với bạn bè, hàng xóm là một nguyên nhân được tác giả Nguyễn Hồng Hà trong “Nguyên nhân xung đột trong gia đình dưới góc độ cư xử với bạn bè, hàng xóm” [25] phát hiện. Những công trình khoa học trong nước và ngoài nước liên quan đến quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình 1.
Những công trình khoa học nghiên cứu về cơ sở lý luận quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình Bạo lực gia đình là một tội ác, cần phải có sự quản lý của nhà nước, cần sự điều chỉnh của pháp luật.