Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (mã số 9 34 04 03) với đề tài "Quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam" được thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia năm 2020.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Gia đình là tế bào của xã hội, nhân tố quyết định đến sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia. Tuy nhiên, bạo lực gia đình (BLGĐ) vẫn diễn ra phức tạp với nhiều vụ việc nghiêm trọng, gây tổn hại thể chất, sang chấn tâm lý nạn nhân và kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội. Sau hơn 10 năm thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 (có hiệu lực từ năm 2008), công tác quản lý nhà nước (QLNN) về phòng, chống bạo lực gia đình (PCBLGĐ) vẫn bộc lộ tính cục bộ, phân tán, chủ yếu tập trung xử lý hậu quả khi bạo lực đã xảy ra. Thể chế quản lý còn chồng chéo, nguồn nhân lực thiếu và hạn chế về chuyên môn, kinh phí eo hẹp, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm chưa đạt hiệu quả cao.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Trước thời điểm đề tài thực hiện, các công trình khoa học trong nước chủ yếu tiếp cận BLGĐ dưới góc độ xã hội học, tâm lý học hoặc khoa học pháp lý đơn lẻ; chưa có nhiều công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về vai trò, nội dung, cơ chế, nguồn lực và trách nhiệm của QLNN trong việc hoạch định và thực thi chính sách PCBLGĐ tại Việt Nam.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về PCBLGĐ ở Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn. Để đạt được mục đích đó, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tiến hành khảo cứu các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài, chỉ rõ những nội dung kế thừa và xác định khoảng trống cần giải quyết.
  2. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về QLNN về PCBLGĐ; làm rõ các khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung và các yếu tố tác động.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về PCBLGĐ tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018; chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
  4. Xác định quan điểm, định hướng và đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về PCBLGĐ.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án xây dựng 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Cần nhận thức lý luận về khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực ở Việt Nam như thế nào?
  2. Những yếu tố nào có tác động, ảnh hưởng đến hiệu quả QLNN về PCBLGĐ và thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố đó ở Việt Nam hiện nay?
  3. Hoạt động QLNN về PCBLGĐ ở Việt Nam đang diễn ra như thế nào? Phù hợp hay không phù hợp với nhận thức về mục tiêu, đặc điểm, vai trò, chủ thể, nội dung, hình thức hoạt động QLNN về PCBLGĐ cũng như về yêu cầu mà hoạt động QLNN về PCBLGĐ ở Việt Nam đang hướng tới?
  4. Nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN về PCBLGĐ ở Việt Nam hiện nay cần xuất phát từ những quan điểm nào và cần thực hiện những giải pháp nào để hiện thực hóa các quan điểm đó?

Tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu, 4 giả thuyết nghiên cứu được xác lập:

  1. Khái niệm QLNN về PCBLGĐ đã cơ bản được định hình nhưng vai trò và nội dung của QLNN về PCBLGĐ chưa được xác định và phân tích rõ, ảnh hưởng đến việc nhận diện chính xác các yêu cầu của hoạt động quản lý.
  2. Có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến QLNN về PCBLGĐ ảnh hưởng đến tính hiệu lực, hiệu quả nhưng khả năng tác động chưa được nhận diện đầy đủ hoặc bị hiểu sai, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động.
  3. Hoạt động QLNN về PCBLGĐ ở Việt Nam đã đạt kết quả nhất định, song hệ thống văn bản pháp luật và thực tiễn hoạt động còn nhiều bất cập, hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
  4. Các quan điểm và giải pháp áp dụng thời gian qua chưa thực sự phù hợp và thiếu tính toàn diện; một số giải pháp chưa được triển khai do nhận thức chưa đầy đủ hoặc thiếu tính khả thi vì chưa xây dựng được các điều kiện đảm bảo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hoạt động QLNN về PCBLGĐ, trọng tâm là bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em trong gia đình.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2008 – 2018 (kể từ khi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 có hiệu lực thi hành).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực tế tại thành phố Hà Nội (đại diện miền Bắc), tỉnh Thừa Thiên Huế (đại diện miền Trung) và tỉnh Đắk Nông (đại diện khu vực Tây Nguyên).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án phân loại và điểm luận các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:

  • Nghiên cứu về các hình thức và thực trạng bạo lực gia đình: Các báo cáo quốc tế như UNICEF (2014) về bạo lực đối với trẻ em ở Đông Á - Thái Bình Dương; WHO (2013) ước tính 35% phụ nữ toàn cầu từng trải qua bạo lực thể xác hoặc tình dục; Rawlings và Roberta K. Rigsby (1994) về khủng bố tình dục và bạo lực giới; Fenrich & Contesse (2008) tại New Zealand. Tại Việt Nam, có "Điều tra gia đình" (2006) ghi nhận 21,2% cặp vợ chồng từng xảy ra bạo lực; Tổng cục Thống kê (2010) công bố 58% phụ nữ từng kết hôn chịu ít nhất một dạng bạo lực; nghiên cứu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012) tại Yên Bái, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hậu Giang; Nguyễn Thị Hoa (2016) và Lê Tường Lân (2017) về sang chấn tâm lý và mức độ hài lòng cuộc sống của nạn nhân.
  • Nghiên cứu về nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình: Các công trình quốc tế của WHO (2009), Araujo và cộng sự (2000), Báo cáo của Thượng Nghị viện Australia (2016), Báo cáo của Chính phủ Nepal (2013) chỉ rõ bất bình đẳng giới, sự chênh lệch quyền lực và văn hóa bảo thủ là nguyên nhân căn bản. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Nguyễn Thị Khoa (2002), Trần Ánh Tuyết, Nguyễn Hữu Minh, Hoa Hữu Vân (2012), Nguyễn Tử Khiêm và Nguyễn Kim Mai (2005), Phạm Kiều Oanh và Nguyễn Thị Khoa (2008), Lý Thị Minh Hằng (2010), Nguyễn Bá Đạt (2010), Nguyễn Hồng Hà (2012) phân tích các yếu tố kinh tế thị trường, chuẩn mực truyền thống, đói nghèo, áp lực xã hội và tâm lý nạn nhân.
  • Nghiên cứu về cơ sở lý luận quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình: Hagemann-White (2012), Matczak & Lindsay (2011) về chính sách tại Anh và xứ Wales; Herbert & Mckenzie (2014) và Bộ Tư pháp New Zealand (2015) về hệ thống tích hợp can thiệp bạo lực gia đình; Lê Thị Hương (2015), Trương Thị Thanh Nhàn (2017), Tào Thị Quyên (2017), Lê Thị Quý (2010), Báo cáo nghiên cứu của Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội (2007) về pháp luật PCBLGĐ của hơn 10 quốc gia.
  • Nghiên cứu về tổ chức thực hiện và giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình: Kaur & Garg (2008), Shelley Casey (2008) của Liên hợp quốc; Hoàng Bá Thịnh (2008), Nguyễn Hữu Minh và cộng sự (2013), Đặng Cảnh Khanh (2015) về vai trò truyền thông; Lê Thị Hồng Thương (2014), Hoàng Tuyết Mai (2019), Trần Tuyết Ánh (2015), Huỳnh Thị Ngọc Phúc (2018), Nguyễn Kim Quý (2018) về thực thi và giáo dục pháp luật; Lê Thị Phương Mai và Lê Ngọc Lân (2002), Nguyễn Thị Hoài Đức (2001), Nguyễn Thị Vân Anh (2013) về can thiệp y tế; Vũ Đăng Minh (2018), Bùi Thị Mừng (2018), Nguyễn Phương Nhung (2019), Nguyễn Thị Thanh Hải (2019), Phạm Minh Chiêu (2013) về vai trò của bộ máy công tác gia đình, cơ quan tư pháp và công an.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy các nghiên cứu trước đây còn những khoảng trống sau:

  • Khái niệm, nội dung và đặc điểm riêng của QLNN về PCBLGĐ chưa được phân tích toàn diện dưới góc độ khoa học Quản lý công.
  • Các công trình trước chủ yếu nghiên cứu ở phạm vi hẹp (cấp huyện, quận hoặc một khía cạnh riêng lẻ) mà chưa đánh giá tổng thể mối quan hệ phối hợp liên ngành, phân định trách nhiệm quản lý nhà nước giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương.
  • Thiếu nghiên cứu chuyên sâu về các điều kiện đảm bảo nguồn lực (nhân lực, ngân sách, cơ sở vật chất) cho công tác quản lý.
  • Chưa có công trình tổng kết kinh nghiệm quốc tế về QLNN trong PCBLGĐ nhằm rút ra bài học kinh nghiệm áp dụng phù hợp với điều kiện thể chế của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm tiếp cận

  • Phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình, các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
  • Khung lý thuyết: Sử dụng lý thuyết về quyền con người (bảo vệ quyền sống, danh dự, nhân phẩm theo Hiến pháp năm 2013) và lý thuyết về quản trị nhà nước (tiếp cận theo khoa học Quản lý công).
  • Khái niệm then chốt: Luận án đưa ra định nghĩa: "QLNN về PCBLGĐ là một bộ phận của quản lý nhà nước về gia đình, do những cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền tiến hành trên cơ sở những quy định của pháp luật về PCBLGĐ nhằm hiện thực hóa những quy định của pháp luật PCBLGĐ đã có hiệu lực pháp luật; thông qua hoạt động tổ chức quản lý, truyền thông giáo dục ngăn chặn hành vi BLGĐ để hoàn thiện pháp luật, chính sách, cơ chế, tổ chức bộ máy, chế độ kiểm tra, thanh tra... trong công tác PCBLGĐ; tăng cường ý thức tôn trọng Hiến pháp và pháp luật, góp phần đảm bảo quyền con người, ổn định chính trị - xã hội của đất nước, tạo tiền đề thuận lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội... của nước ta trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước".

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Phương pháp Quy mô / Đối tượng thực hiện Mục đích và công cụ xử lý
Khảo sát định lượng (Bảng hỏi) $N = 300$ cán bộ quản lý (Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã, lãnh đạo cấp phòng) tại 3 địa bàn: Hà Nội ($n=100$), Thừa Thiên Huế ($n=100$), Đắk Nông ($n=100$). Thực hiện năm 2018 - 01/2019. Thu thập dữ liệu thực trạng, đánh giá cơ chế chính sách, bộ máy, sự phối hợp liên ngành, thanh tra kiểm tra. Xử lý bằng phần mềm SPSS và Microsoft Excel.
Khảo sát định tính (Phỏng vấn sâu) $N = 20$ cuộc phỏng vấn (thời lượng 15 - 30 phút/cuộc, trực tiếp, điện thoại, email):
- Cán bộ QLNN cấp trung ương: 02 người.
- Cán bộ QLNN cấp tỉnh: 03 người.
- Cán bộ QLNN cấp cơ sở: 06 người.
- Người dân tại cộng đồng: 06 người.
- Cán bộ tại các tổ chức NGO: 03 người.
Làm rõ nhận thức, các rào cản thực tế, kinh nghiệm xử lý vụ việc và các bất cập cơ chế không thể hiện hết qua bảng hỏi.
Phương pháp chuyên gia Trao đổi trực tiếp, tham khảo ý kiến các nhà khoa học, nhà quản lý về gia đình và PCBLGĐ. Hoàn thiện lập luận, kiểm định tính khoa học và tính khả thi của hệ thống giải pháp.
Phân tích số liệu thứ cấp Dữ liệu thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2008 – 2018), báo cáo của các bộ, ngành, UBND các tỉnh Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Đắk Nông. Đánh giá diễn biến số vụ bạo lực gia đình, tỷ lệ xử lý, độ bao phủ của các mô hình can thiệp.

Cơ cấu nhân khẩu học của mẫu khảo sát định lượng ($N=300$):

  • Giới tính: Nam chiếm 78,0% (234 người); Nữ chiếm 22,0% (66 người).
  • Độ tuổi: Dưới 30 tuổi: 1,3% (4 người); Từ 30 đến 45 tuổi: 48,0% (144 người); Trên 45 tuổi: 50,7% (160 người).
  • Cơ quan công tác: Cơ quan Đảng chiếm 7,3% (22 người); Cơ quan chính quyền chiếm 82,0% (246 người); Tổ chức đoàn thể chiếm 10,7% (32 người).

Độ bao phủ mô hình PCBLGĐ tại 3 địa bàn khảo sát (theo thống kê năm 2018 của Bộ VH-TT-DL):

  • Hà Nội: 437/584 xã, phường, thị trấn có mô hình PCBLGĐ (đạt 74,8%).
  • Thừa Thiên Huế: 152/77 điểm triển khai mô hình (đạt tỷ lệ bao phủ 50,5%).
  • Đắk Nông: 184/129 điểm triển khai mô hình (đạt tỷ lệ bao phủ 70,1%).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước về BLGĐ và QLNN về PCBLGĐ. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây đã làm rõ sự tồn tại của 4 hình thức bạo lực (thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế), chứng minh các nguyên nhân gốc rễ bắt nguồn từ bất bình đẳng giới, tư tưởng phụ hệ và điều kiện kinh tế khó khăn. Tuy nhiên, các công trình chủ yếu tiếp cận từ góc độ tâm lý, xã hội học hoặc luật hình sự, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về phương thức quản lý hành chính nhà nước, sự phân công trách nhiệm công vụ và cơ chế bảo đảm nguồn lực. Từ đó, chương 1 xác định 5 vấn đề cốt lõi cần giải quyết tiếp theo: hoàn thiện khái niệm và đặc điểm QLNN về PCBLGĐ; phân tích chủ thể, đối tượng, nội dung quản lý; xây dựng khung phân tích các yếu tố tác động; đánh giá thực trạng trên cơ sở số liệu thống kê và khảo sát thực tế; đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ.

Chương 2: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình

Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng: gia đình, bạo lực, bạo lực gia đình (phân loại thành 4 nhóm: bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục, bạo lực kinh tế), phòng ngừa và chống bạo lực gia đình. Tác giả phân tích các đặc điểm của QLNN về PCBLGĐ:

  • Chủ thể quản lý: Nhà nước, trong đó Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chủ trì ở cấp trung ương, UBND các cấp là cơ quan quản lý tại địa phương.
  • Khách thể quản lý: Thành viên gia đình, hộ gia đình và các tổ chức, cá nhân liên quan.
  • Phương thức quản lý: Kết hợp giữa giáo dục thuyết phục, biện pháp hành chính và kinh tế, trong đó giáo dục thuyết phục nhằm thay đổi nhận thức và hành vi là chủ yếu.
  • Tính chất quyền lực: Mang tính quyền lực công nhưng đòi hỏi sự phối hợp liên ngành mật thiết.

Chương này cũng phân tích các nội dung quản lý (ban hành văn bản quy phạm pháp luật; kiện toàn tổ chức bộ máy; triển khai mô hình can thiệp; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; hợp tác quốc tế) và tiêu chí đánh giá hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, tác giả khảo cứu kinh nghiệm QLNN về PCBLGĐ tại Hàn Quốc (mô hình trung tâm tư vấn, nhà tạm lánh), Trung Quốc và Australia, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam về hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng cơ chế bảo vệ khẩn cấp và xã hội hóa nguồn lực hỗ trợ nạn nhân.

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 phân tích thực trạng diễn biến BLGĐ và hoạt động QLNN giai đoạn 2008 – 2018:

  • Về thể chế: Đã ban hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, cùng 8 luật điều chỉnh hành vi liên quan, hơn 12 nghị định, 14 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 17 thông tư hướng dẫn và 17 văn bản chỉ đạo của các bộ, ngành. Tuy nhiên, một số quy định còn thiếu đồng bộ, chế tài xử phạt hành chính chưa đủ sức răn đe, quy định về cấm tiếp xúc còn khó áp dụng trên thực tế.
  • Về bộ máy và nguồn lực: Bộ máy làm công tác gia đình từ trung ương đến địa phương còn mỏng, cán bộ cấp cơ sở hầu hết là kiêm nhiệm (cán bộ văn hóa - xã hội cấp xã), thường xuyên thay đổi vị trí công tác. Ngân sách cấp cho công tác PCBLGĐ còn hạn hẹp, chủ yếu dựa vào các chương trình mục tiêu hoặc tài trợ quốc tế.
  • Về tổ chức thực hiện và mô hình can thiệp: Các mô hình câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững, nhóm phòng chống bạo lực gia đình, địa chỉ tin cậy tại cộng đồng được nhân rộng nhưng hoạt động chưa đồng đều, kinh phí duy trì hạn chế.
  • Về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Việc phát hiện, xử lý hành vi bạo lực gia đình còn chậm, số vụ bị xử lý hành chính hoặc hình sự chiếm tỷ lệ thấp so với thực tế phát sinh; các mâu thuẫn gia đình thường được xử lý qua hòa giải cơ sở mang tính hình thức.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam

Chương 4 xác định quan điểm chỉ đạo của Đảng, mục tiêu của Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam và Chương trình hành động quốc gia về PCBLGĐ. Đánh giá các yếu tố bối cảnh mới như cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hội nhập quốc tế, phân hóa giàu nghèo, tác động của thiên tai và dịch bệnh. Luận án đề xuất 7 nhóm giải pháp hoàn thiện QLNN về PCBLGĐ:

  1. Đổi mới công tác truyền thông, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm thống nhất nhận thức trong toàn xã hội.
  2. Hoàn thiện chính sách, pháp luật về PCBLGĐ (sửa đổi, bổ sung Luật PCBLGĐ năm 2007, cụ thể hóa quy định về cấm tiếp xúc, tăng mức xử phạt và đa dạng hóa biện pháp xử lý).
  3. Kiện toàn tổ chức bộ máy và bảo đảm nguồn lực (bố trí ngân sách thỏa đáng, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ công chức làm công tác gia đình).
  4. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý nghiêm minh các vi phạm.
  5. Nâng cao chất lượng hoạt động của các mô hình PCBLGĐ tại cộng đồng và các dịch vụ hỗ trợ nạn nhân.
  6. Tăng cường phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Mặt trận Tổ quốc).
  7. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong chia sẻ kinh nghiệm và tranh thủ nguồn lực kỹ thuật, tài chính.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về QLNN đối với PCBLGĐ dưới góc độ khoa học Quản lý công; xác định rõ nội hàm khái niệm, đặc điểm, chủ thể, khách thể, phương thức và các nội dung cấu thành của hoạt động này.
  • Xác định và phân tích khung tiêu chí đánh giá hiệu lực, hiệu quả QLNN về PCBLGĐ; làm rõ tác động của các yếu tố khách quan (kinh tế, văn hóa, bối cảnh công nghệ) và chủ quan (năng lực bộ máy, thể chế pháp luật) đến hiệu quả quản lý.
  • Đúc kết kinh nghiệm quốc tế từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Australia về khung pháp lý, tổ chức nhà tạm lánh và dịch vụ can thiệp để rút ra bài học cho Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng QLNN về PCBLGĐ giai đoạn 2008 – 2018 dựa trên dữ liệu thứ cấp toàn quốc và dữ liệu khảo sát thực chứng ($N=300$ bảng hỏi, 20 phỏng vấn sâu) tại 3 địa bàn đại diện (Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Đắk Nông).
  • Đánh giá cụ thể những bất cập trong việc thực thi văn bản quy phạm pháp luật, những hạn chế về năng lực cán bộ kiêm nhiệm cấp cơ sở, sự thiếu hụt ngân sách và những tồn tại trong công tác thanh tra, xử lý vi phạm.
  • Đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp mang tính khả thi, gắn liền với định hướng sửa đổi khung thể chế, kiện toàn tổ chức bộ máy, lồng ghép nội dung PCBLGĐ vào chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ tại Học viện Hành chính Quốc gia và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Về phạm vi không gian: Khảo sát thực địa mới chỉ giới hạn tại 3 địa bàn (Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Đắk Nông) với cỡ mẫu 300 phiếu khảo sát cán bộ quản lý, chưa bao quát hết tất cả các vùng miền đặc thù khác (như vùng đồng bằng sông Cửu Long hoặc miền núi phía Bắc).
  • Về đối tượng khảo sát: Mẫu định lượng chủ yếu tập trung vào đối tượng cán bộ quản lý, lãnh đạo cấp cơ sở và cấp phòng; việc thu thập thông tin từ nạn nhân bạo lực gia đình và người dân mới dừng lại ở phỏng vấn sâu và tổng hợp dữ liệu thứ cấp do tính chất nhạy cảm của đề tài.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực nghiệm trên diện rộng đối với các nhóm dân tộc thiểu số và các vùng kinh tế - xã hội đặc thù khác.
  • Đi sâu nghiên cứu cơ chế tài chính công và định mức kinh tế - kỹ thuật cho các dịch vụ trợ giúp xã hội, nhà tạm lánh và bảo trợ nạn nhân BLGĐ.
  • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Luận án là tài liệu phục vụ trực tiếp cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các bộ, ngành liên quan và Ủy ban Xã hội của Quốc hội trong việc rà soát, đánh giá thực thi và sửa đổi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, cũng như xây dựng các chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia về gia đình.
  • Đối với chính quyền địa phương: Cung cấp cơ sở thực tiễn để UBND các cấp kiện toàn bộ máy làm công tác gia đình, phân công rõ trách nhiệm phối hợp liên ngành giữa ngành văn hóa, công an, tư pháp, y tế và các tổ chức đoàn thể.
  • Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công, Xã hội học và Luật học; đồng thời cung cấp luận cứ để xây dựng chuyên đề giảng dạy về quản lý nhà nước đối với các vấn đề xã hội tại Học viện Hành chính Quốc gia và các trường chính trị tỉnh, thành phố.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định nguyên nhân căn bản dẫn đến bạo lực gia đình tại Việt Nam là gì?

Luận án chỉ ra bạo lực gia đình xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân căn bản gồm: nhận thức sai lệch và tư tưởng phong kiến gia trưởng; bất bình đẳng giới còn tồn tại sâu sắc; tác động tiêu cực của khó khăn kinh tế, thất nghiệp và các tệ nạn xã hội (nghiện rượu, ma túy, cờ bạc); cùng với đó là sự thiếu hiểu biết pháp luật của người dân và tâm lý cam chịu, e ngại không dám tố cáo của nạn nhân.

2. Bộ máy quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình ở cấp cơ sở có những hạn chế gì?

Theo phát hiện của luận án, hạn chế lớn nhất ở cấp xã/phường là thiếu đội ngũ cán bộ chuyên trách. Công tác gia đình và PCBLGĐ chủ yếu do công chức văn hóa - xã hội kiêm nhiệm nhiều đầu việc, thường xuyên biến động và ít được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng can thiệp, tư vấn và xử lý các vụ việc bạo lực gia đình.

3. Phương thức quản lý nhà nước nào được luận án nhấn mạnh là chủ đạo trong phòng, chống bạo lực gia đình?

Luận án xác định phương thức quản lý chủ đạo là giáo dục thuyết phục nhằm chuyển đổi nhận thức, thái độ và hành vi của cá nhân và cộng đồng. Biện pháp hành chính và xử phạt pháp lý giữ vai trò răn đe, phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời khi có hành vi vi phạm.

4. Mẫu khảo sát xã hội học của luận án được thiết kế như thế nào?

Khảo sát định lượng được thực hiện trên 300 cán bộ quản lý (Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã, lãnh đạo cấp phòng) tại Hà Nội, Thừa Thiên Huế và Đắk Nông (mỗi địa phương 100 phiếu). Khảo sát định tính gồm 20 cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ trung ương, địa phương, cơ sở, người dân và đại diện tổ chức phi chính phủ.

5. Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế pháp luật cụ thể nào?

Luận án đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; hoàn thiện quy trình và cơ chế thực thi biện pháp cấm tiếp xúc; nâng mức chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi bạo lực; bổ sung quy định cụ thể về việc thành lập và vận hành các cơ sở hỗ trợ, nhà tạm lánh và dịch vụ trợ giúp pháp lý cho nạn nhân.


Kết luận

Luận án "Quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam" đã luận giải toàn diện cơ sở khoa học của quản lý công trong lĩnh vực PCBLGĐ. Thông qua việc phân tích thực trạng 10 năm thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2008 – 2018) và dữ liệu khảo sát thực chứng tại 3 địa phương, công trình đã chỉ rõ những kết quả, hạn chế về thể chế, tổ chức bộ máy và nguồn lực. Hệ thống 7 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về gia đình tại Việt Nam.