Chương I của luận án). Bên cạnh đó, bài toán nhiệt ngược thời gian với nguồn nhiệt phi tuyến cũng chỉ mới được nhóm chúng tôi khảo sát gần đây trong các bài báo (69, 73] đã công bố (nội dung chính của chương 6 và 7) và trong công trình [80] (gửi đăng ở tạp chí ZAA). Trong khuôn khổ các tài liệu tìm được, chúng tôi chưa tìm được các công trình khác về bài toán phi tuyến này. Bài toán xác định nhiệt độ bể mặt từ các div liệu đo bên trong (borehole measurements) là bài toán đã được khảo sát rất nhiều trong trường hợp vật thể dẫn nhiệt chỉ có một lớp (one layer).
Bài toán này đã được phát biểu trong [1, 16, 19,. Trường hợp biến không gian x thuộc về nửa trục thực bài toán (với hệ số hằng) đã được khảo sát bởi Carasso [22]. Talenti và Vessella [76]. Dinh Nho Hao,H.] sử dụng phương pháp mollification đã khảo sát bài toán trong trường hợp hệ số phụ thuộc vào biến x (với giả thiết trụ cột là nhiệt độ ban đầu triệt tiêu) và cho các đánh giá ổn định loại Holder.
Gần đây, Chu-Li Fu [33] cũng sử dụng phương pháp chỉnh hóa Fourier (chặt cụt các tần số cao) để khảo sát bài toán. Tuy nhiên bài toán sideways cho trường hợp vật thể có nhiều lớp (multi-layer) vẫn chưa được khảo Lời nói đầu 5 sát nhiều mặc dù đã được để cập rất rõ ràng trong cuốn sách kinh điển của [I6]. Có lẽ một trong những lý do là quan điểm cho rằng bài toán đó đã được giải quyết về mặt nguyên tắc vì có thể phân thành nhiều bài toán một lớp và ta có thể lần lượt giải theo từng lớp từ trong ra ngoài. Tuy nhiên, phương pháp này có các tính toán nhiều và khó rút ra các đánh giá về sai số.
Chúng tôi đã khảo sát bài toán trên quan điểm tính toán đồng thời phân bố nhiệt độ trong tất cả các lớp như là hệ thống của các phương trình tích chập, nhờ đó có thể tính trực tiếp nhiệt độ bé mặt mà không phải tính theo lối quy nạp. Trong Chương 3, các kết quả cho một vật thể dẫn nhiệt hai lớp đã được trình bày như một minh họa cho ý tưởng của phương pháp. Các kết quả này đã được công bố trong bài [71] trên tạp chi Applicable Analysis. Trường hợp xác định nhiệt độ bể mặt của vật thể thỏa phương trình elliptic phi tuyến được khảo sát trong chương 5.
Cũng như các bài toán phi tuyến nhiệt ngược thời gian, chúng tôi cũng chưa tìm ra được các công trình khảo sát bài toán phi tuyến tương tự. Bài toán đặt ra ở đây là xác định phân bố nhiệt độ trên biên (trục Ox) từ nhiệt độ đo ở những điểm có phương trình y=l của nửa mặt phẳng trên. Việc khảo sát này sử dụng ý tưởng thông dụng được nói tới trong [16, 46, .]: khảo sát bài toán trong phan mặt phẳng y>1 (bài toán chỉnh) rồi lấy kết quả làm dữ liệu để khảo sát trong dải 0<y<1 (bài toán không chỉnh). Các kết quả này chỉ là các kết quả bước đầu cho việc nghiên cứu bài toán phi tuyến này.
Nội dung của bài toán được trình bày trong bài báo [72] đã công bố trên tạp chí Vietnam Journal of Mathematics và là nội dung của Chương 5. Trong các bài toán xác định về hệ số, luận án chỉ khảo sát bài toán tim nguồn nhiệt. Đây là một loại bài toán phi tuyến (xem [51, trang 222]). Một số Lời nói đầu 6 dang đặc biệt của nguồn nhiệt F thường được xem xét.
Trong [64], dạng F(x,t) = g„(X,t)+f,(x)g(U +f,(Đ)g;(X) được khảo sát. Hao [42] khảo sát dạng nguồn nhiệt F(x.t)f(x) với f(x) là ẩn hàm va (x,t) là hàm trọng lượng (weight function) đã cho chính xác. Cannon-Esteva, Dinh Nho Hào, Saioh-Vũ Kim Tuấn-Yamamoto, Yamamoto [20, 21, 40, 75, 82] đã khảo sát dạng tách biến F(x,L) = (X(t) trong đó một trong hai hàm là ẩn hàm. Hàm u= u„ và Fe F la hàm phụ thuộc phi tuyến vào ọ.
Nếu hàm ọ đã biết chính xác (exactly given function) thì bài toán trở thành tuyến tính. Để giải được bài toán này một số điều kiện được bổ sung thêm (overdetermination conditions). Trường hợp bổ sung thêm giá trị nhiệt độ đo ở phần trong của vật thể, bài toán khảo sát sự ổn định của nguồn nhiệt được trình bày trong [20, 21, 75, 82]. Bài toán tổn tại và duy nhất cho bài toán hệ số trên miền không gian là đoạn (0,1) đã được khảo sát trong [40] sử dụng điều kiện Cauchy ở một phần của biên.
Trong luận án này, chúng tôi xét bài toán xác định nguồn nhiệt có dạng hai chiều không gian có dang @(Uf(x,y) với @(© là hàm cho biết không chính xác (inexactly given function) và điều kiện bổ sung của chúng tôi cũng là điều kiện cuối (final overdetermination) như trong [51]. Công trình của chúng tôi khác các kết quả được phát biểu bởi Isakov ở những điểm sau: Thứ nhất, bài toán trong [50, 51] được khảo sát ở khía cạnh ổn định và duy nhất. còn công trình của chúng tôi khảo sát việc chỉnh hóa bài toán. Như chúng tôi đã phân tích ở phần đầu, đó là hai bài toán khác nhau.
Lời nói đầu 7 Thứ hai, trong [51], ham (x,t) xem như bié? chính xác, do đó. như đã lưu ý, kết qua phát biểu trong [51] (Định lý 9.1, trang 222) được sử dụng cho bài toán tuyến tính. Trong khi đó, trong bài toán chúng tôi nghiên cứu, ham g(t) được xem là dữ kiện biết không chính xác, chỉ biết hàm xấp xỉ @,(t) của @(t), do đó bài toán tìm (u,F)=(u,,.F,) là phi tuyến. Thứ ba, dạng nguồn nhiệt chúng tôi khảo sát có vẻ đơn giản hơn dạng khảo sát trong [51].
Tuy nhiên đi kèm với dạng nguồn nhiệt là các điều kiện trên đó. Với đặc điểm phức tạp của loại toán này, với các điều kiện khác nhau, phương pháp giải quyết có thể khác nhau hoàn toàn. Do đó dạng tổng quát của nguồn nhiệt như trong [51] nếu chưa xét đến các điều kiện thì chưa thể so sánh thỏa đáng được. Thực tế, Isakov đã chứng minh được rằng nếu có điều kiện (9.1) 0<(@,0 <0, trên Q và @>£>0 trên Qx(T) thì bài toán ổn định nghiệm trong không gian các hàm có đạo hàm liên tục với cấp thích hợp.
Vậy với điều kiện này, bài toán trở thành chỉnh trong C”' ({51] không xét bài toán trên trong không gian các hàm khả tích L’ với điều kiện đầu và cuối cũng thuộc L”). Tuy nhiên, nếu điều kiện (9.1) nói trên không thỏa thì như chúng tôi đã trích dẫn, bài toán có thể không duy nhất nghiệm (xem [51], trang 222), nghĩa là bài toán trở thành không chỉnh. Trong công trình [79], các điều kiện trên hàm @ được giảm nhẹ rất nhiều (xem Chương 4 của luận án) va đo đó nằm ngoài phạm vi của các kết quả trình bày trong [50, 51]. Thứ tư, để thực hiện chỉnh hóa một cách tường minh, chúng tôi sử dụng các điều kiện dạng Dirichlet trên một phần biên do các ý nghĩa vật lý của bài toán.
Việc chỉnh hóa mà không sử dụng thêm các điều kiện Dirichlet đang được nghiên cứu tiếp tục. chúng tôi hy vọng rằng sẽ có tiến triển trong tương lai gần. Lời nói đầu EE Các kết qua của chúng tôi đã được công bố trong bài báo [79] và là nội dung của chương 4. Cuối cùng, chúng tôi xin thảo luận về các phương pháp chỉnh hóa được sử dụng trong luận án này đồng thời cũng thảo luận về nội dung của Chương 2 của luận án.
Để tiện lợi trong các thảo luận về sau, chúng tôi nêu lên định nghĩa của sự chỉnh hóa. Vì trong luận án có sự chỉnh hoá các bài toán phi tuyến nên chúng tôi định nghĩa lấy ý tưởng trong [78, trang 43] Xét phương trình Au=f, ueD(A)cXfeY trong đó X và Y là các không gian mêtric với mêtric d và p, A là toán tử từ X vào Y. Giả sử u,, (gọi là nghiệm chính xác, exact solution) và f,, (gọi là đữ liệu chính xác, exact data) thỏa Au,, =f,,. Toán tử R„(Ð (phụ thuộc vào tham số œ và có thể không tuyến tính) gọi là roán tử chỉnh hóa cho phương trình Au=f trong một lân cận mở W của f nếu A.
tổn tại một số ð, >0 sao cho R„ xác định với moi œ >0 và với mọi fW trên sao cho p(f,.õ,) ta tìm được a(e) và œ(£) thỏa a(e)> 0 khi e >0 (@(£) —> 0 khi z => và nếu p(f,,. Lời nói đầu 9 Trường hợp tham số œ là số tự nhiên thì trong định nghĩa trên ta thay điều kiện tiến về 0 của ơ(£) bởi điều kiện ơ(e) > © khi e—>0. Số ơ gọi là tham số chỉnh hóa. Hàm u, gọi là nghiệm chỉnh hoá của bài toán, Dữ liệu f, gọi là đứ liệu không chính xác (inexact data).
Thông thường di? liệu do do đạc (measured data) hay di? liệu được cho (given data) của bài toán không phải là f,. Hàm f, là kết quả phối hợp của các di? liệu được cho thông qua nhiều phép toán khác nhau nên chỉ có thể gọi là dit liệu có được do tính toán (calculated data) từ các dữ liệu được cho hay gọi là các dit liệu thứ cấp (tam gọi là processed data). Sai số so với dữ liệu chính xác thường được ngầm định cho di? liệu được cho và có thể gọi là sai số ban đầu. Sai số trên các đữ liệu thứ cấp phải được đánh giá từ sai số ban đầu trên dữ liệu được cho.
Như vậy qua định nghĩa của nghiệm chỉnh hóa ta thấy có hai bài toán riêng. Thứ nhất là tim toán tử chỉnh hóa R,,. Thứ hai là tìm một phương pháp chọn tham số chỉnh hóa ơ(e). Nhiều công trình về chỉnh hóa chỉ giải quyết vấn dé thứ nhất, còn vấn dé thứ hai được phát biểu dưới dạng “tổn tai”.
Như đã được phân tích trong [1], các phương pháp giải có thể được chia thành hai loại: phương pháp phổ quát (universal) và phương pháp được định hướng vào bài toán (problem- oriented) hay còn gọi là phương pháp trực tiếp (direct methods). Chẳng hạn phương pháp chỉnh hóa Tikhonov là một phương pháp phổ quát có thể áp dụng cho các lớp bài toán rất rộng. Trong phương pháp trực tiếp, ta xem xét các yêu cầu cụ thể trên các dữ liệu và do đó, phạm vi áp dụng của nó hẹp hơn. Bù lại, các phương pháp chỉnh hóa trực tiếp đơn giản hơn và có thể mang lại sự xấp xỉ tốt trong từng trường hợp.
Khi sử dụng phương pháp phổ quát như chỉnh hóa Tikhonov, chúng tôi thường gap khó khăn khi phải chọn tham số chỉnh hóa a(s) Lời nói đầu 10 nếu không sử dụng một vài điểu kiện (rất khó kiểm tra) chẳng hạn như f <¢ Range A’ (xem [3§]).