Luận án tiến sĩ về Ngân hàng Đông Dương trong thời kỳ thực dân hóa của Pháp tại Việt Nam (1875-1954)

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích ngân hàng đông dương trong quá trình thực dân hóa của pháp ở việt nam 1875 1954, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

330
5
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Một số khái niệm sử dụng trong luận án

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.1. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận chung về ngân hàng

1.2.2. Nhóm công trình nghiên cứu tình hình kinh tế-tài chính-tiền tệ ở Việt Nam từ năm 1862 đến năm 1954

1.2.3. Nhóm công trình nghiên cứu về Ngân hàng Đông Dương trong quá trình thực dân hóa của Pháp ở Việt Nam giai đoạn 1875 đến 1954

1.2.4. Nhóm công trình nghiên cứu về tác động của tình hình đến hoạt động của Ngân hàng Đông Dương trong thời kỳ thực dân hóa

1.3. Tình hình nghiên cứu nước ngoài

1.3.1. Nhóm công trình nghiên cứu về kinh tế-tài chính-tiền tệ và ngân hàng trong thời kỳ Pháp thuộc ở Việt Nam

1.3.2. Nhóm công trình nghiên cứu về Ngân hàng Đông Dương từ năm 1875 đến năm 1954

1.4. Những vấn đề đặt ra và kế thừa cho luận án

1.4.1. Những kết quả nghiên cứu đi trước và kế thừa

1.4.2. Những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu trong luận án

1.5. Tiểu kết chương 1

2. NGÂN HÀNG ĐÔNG DƯƠNG RA ĐỜI TRONG CÔNG CUỘC XÂM LƯỢC VÀ BÌNH ĐỊNH CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1875 - 1896

2.1. Thực dân pháp xâm lược việt nam và sự ra đời của Ngân hàng Đông Dương

2.2. Thực dân Pháp gây chiến tranh xâm lược Việt Nam

2.3. Sự ra đời Ngân hàng Đông Dương

2.4. Ngân hàng Đông Dương tài trợ về tài chính cho thực dân pháp mở rộng chiến tranh xâm lược giai đoạn 1875 đến 1896

2.5. Ngân hàng Đông Dương và chi nhánh tại Sài Gòn trong chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp giai đoạn 1875 đến 1896

2.6. Ngân hành Đông Dương tài trợ tài chính cho thực dân Pháp mở rộng chiến tranh giai đoạn 1875 đến 1896

2.7. Tiểu kết chương 2

3. NGÂN HÀNG ĐÔNG DƯƠNG THÚC ĐẨY CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1897-1945

3.1. Quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam giai đoạn 1897 đến 1945

3.1.1. Giai đoạn từ năm 1897 đến năm 1914

3.1.2. Giai đoạn từ năm 1914 đến năm 1918

3.1.3. Giai đoạn từ năm 1919 đến năm 1929

3.1.4. Giai đoạn từ năm 1929 đến năm 1939

3.1.5. Giai đoạn từ năm 1940 đến năm 1945

3.2. Ngân hàng Đông Dương mở rộng hoạt động và vai trò tư bản tài chính trong công cuộc khai thác thuộc địa giai đoạn 1897-1945

3.3. Sự phát triển hệ thống Ngân hàng Đông Dương trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

3.4. Những hoạt động chính yếu của Ngân hàng Đông Dương trong quá trình thực dân Pháp khai thác thuộc địa ở Việt Nam

3.5. Tiểu kết chương 3

4. NGÂN HÀNG ĐÔNG DƯƠNG TRONG THỜI KỲ THỰC DÂN PHÁP TÁI XÂM LƯỢC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954

4.1. Thực dân Pháp tham vọng tái lập chế độ thuộc địa sau chiến tranh thế giới thứ hai

4.2. Hoàn cảnh và điều kiện mới của quá trình tái lập thuộc địa sau chiến tranh thế giới II

4.3. Quá trình chiến tranh tái lập chế độ thuộc địa giai đoạn 1945-1950

4.4. Thực dân Pháp lệ thuộc vào Mỹ trong âm mưu kéo dài chiến tranh giai đoạn 1950-1954

4.5. Vai trò Ngân hàng Đông Dương trong hoàn cảnh mới sau chiến tranh thế giới thứ 2

4.6. Những thay đổi của hệ thống Ngân hàng Đông Dương sau chiến tranh thế giới 2

4.7. Duy trì các chi nhánh Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam

4.8. Sự cấu kết của giới tư bản tài chính trong Ngân hàng Đông Dương và giới hiếu chiến trong chiến tranh xâm lược Việt Nam

4.9. Hoạt động của Ngân hàng đông Dương trong chiến tranh của thực dân Pháp ở việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954

4.10. Tiếp tục phát hành giấy bạc Đông Dương

4.11. Các hoạt động chèn ép Ngân khố Liên bang Đông Dương, buôn lậu vàng, chiết khấu gian lận và đầu cơ tỷ giá hối đoái của Ngân hàng Đông Dương

4.12. Hỗ trợ cho quân đội Pháp trong chiến tranh tái xâm lược Việt Nam

4.13. Chuyển ngân các nguồn vốn của Pháp ra khỏi Việt Nam

4.14. Trợ giúp cho Viện Phát hành tiền tệ của các Quốc gia Liên kết Việt Nam - Lào - Campuchia

4.15. Các chi nhánh Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam kết thúc vai trò lịch sử

4.16. Tiểu kết chương 4

NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Bảng 2. Cơ cấu tổ chức Ngân hàng Đông Dương lúc sơ khởi năm 1875

Bảng. Tiền lãi và hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đông Dương trong vùng đất thuộc Pháp ở hải ngoại và ở nước ngoài

Bảng. Thời gian điều chỉnh vốn điều lệ của Ngân hàng Đông Dương (1931-1946)

Bảng. Số lượng tiền tệ phát hành và tồn quỹ kim khí đảm bảo trong lưu thông tiền tệ tại Đông Dương từ năm (1913-1920), đồng bạc Đông Dương: ký hiệu “P”

Bảng. Tỷ giá hối đối của đồng bạc Đông Dương so với các ngoại tệ khác tại Sài Gòn (1939-1953), đồng bạc Đông Dương: ký hiệu “P”

Bảng. Số tiền lãi Ngân hàng Đông Dương thu được trong hai năm tài khóa (1928-1929)

Bảng. Kết quả thu hồi vốn, lãi của hệ thống các CPA từ (1931-1944)

Bảng. Sự tiến triển của tiền lãi ròng do một số công ty vô danh công bố và thực hiện

Bảng. Các dịch vụ tài chính của Ngân hàng Đông Dương từ 1919-1922

Bảng. Các loại công thải và công trái phát hành tại Đông Dương từ (1896-1939)

Bảng. Sự chuyển biến sức mua theo thời giá của tiền lương theo giá cả sinh hoạt ở Đông Dương trong giai đoạn 1926-1933 (theo chỉ số 100 của năm 1925)

Bảng. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Đông Dương (1929-1938)

Bảng. Số lượng tiền giấy lưu thông tại Việt Nam từ năm (1939-1945)

Bảng. Số lượng tiền giấy lưu hành trên lãnh thổ Đông Dương từ (1946- 1953)

Tóm tắt

I. Tổng quan về Ngân hàng Đông Dương và quá trình thực dân hóa của Pháp tại Việt Nam

Ngân hàng Đông Dương được thành lập năm 1875 tại Paris, là công cụ tài chính quan trọng trong quá trình thực dân hóa của Pháp tại Việt Nam. Với các đặc quyền như phát hành tiền giấy, kinh doanh thương mại và đầu tư tài chính, Ngân hàng Đông Dương đã hỗ trợ đắc lực cho Pháp trong việc xâm lược và khai thác thuộc địa. Luận án tiến sĩ này tập trung phân tích vai trò của Ngân hàng Đông Dương trong giai đoạn 1875-1954, từ việc tài trợ chiến tranh đến thúc đẩy khai thác thuộc địa.

1.1. Sự ra đời và vai trò ban đầu của Ngân hàng Đông Dương

Ngân hàng Đông Dương được thành lập vào ngày 21/01/1875, với sự hỗ trợ của các nhà tài phiệt Pháp. Ngân hàng này được Chính phủ Pháp trao đặc quyền phát hành tiền giấy và kinh doanh tại Đông Dương. Trong giai đoạn đầu, Ngân hàng Đông Dương đã tài trợ tài chính cho các cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp tại Việt Nam, đặc biệt là việc đánh chiếm Bắc Kỳ và Trung Kỳ từ năm 1883 đến 1884.

1.2. Ngân hàng Đông Dương trong quá trình khai thác thuộc địa

Từ năm 1897 đến 1945, Ngân hàng Đông Dương đóng vai trò trung tâm trong việc thúc đẩy khai thác thuộc địa của Pháp tại Việt Nam. Ngân hàng đã hỗ trợ tài chính cho các dự án hạ tầng, khai thác mỏ và phát triển đồn điền. Đồng thời, Ngân hàng Đông Dương cũng kiểm soát nền kinh tế thông qua việc phát hành tiền tệ và điều tiết tín dụng.

II. Ngân hàng Đông Dương trong thời kỳ tái xâm lược của Pháp 1945 1954

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Ngân hàng Đông Dương tiếp tục hỗ trợ Pháp trong nỗ lực tái xâm lược Việt Nam. Ngân hàng đã từ bỏ đặc quyền phát hành tiền giấy để hỗ trợ thành lập Viện Phát hành các quốc gia liên kết. Đồng thời, Ngân hàng Đông Dương tham gia vào các hoạt động tài chính phức tạp như chuyển ngân, buôn lậu vàng và hỗ trợ quân đội Pháp.

2.1. Vai trò của Ngân hàng Đông Dương trong chiến tranh tái xâm lược

Trong giai đoạn 1945-1954, Ngân hàng Đông Dương đã tích cực hỗ trợ Pháp trong việc tái xâm lược Việt Nam. Ngân hàng đã tham gia vào việc chuyển ngân các nguồn vốn từ Việt Nam về Pháp, đồng thời hỗ trợ tài chính cho các hoạt động quân sự của Pháp.

2.2. Kết thúc vai trò của Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam

Sau thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954, Ngân hàng Đông Dương đã rút khỏi Việt Nam. Tuy nhiên, các tài liệu và hồ sơ của Ngân hàng vẫn được lưu trữ tại các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, là nguồn tư liệu quý giá cho các nghiên cứu lịch sử và kinh tế.

III. Đóng góp và ý nghĩa của luận án

Luận án tiến sĩ này không chỉ làm rõ vai trò của Ngân hàng Đông Dương trong quá trình thực dân hóa của Pháp tại Việt Nam, mà còn cung cấp những hiểu biết sâu sắc về lịch sử tài chính và kinh tế Việt Nam trong thế kỷ 19 và 20. Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn trong việc xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng hiện đại tại Việt Nam.

3.1. Giá trị lịch sử và khoa học của luận án

Luận án đã tái hiện lại bức tranh toàn diện về hoạt động của Ngân hàng Đông Dương trong 80 năm, từ việc hỗ trợ chiến tranh xâm lược đến khai thác thuộc địa và tái xâm lược. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu lịch sử và kinh tế.

3.2. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng chính sách tài chính và ngân hàng tại Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ngân hàng đông dương trong quá trình thực dân hóa của pháp ở việt nam 1875 1954

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm sử dụng trong luận án - “Thực dân hóa”. Thực dân hóa thực chất là một quá trình mà các nước thực dân phương Tây tiến hành xâm lược các nước nhỏ, yếu để biến các nước này thành thuộc địa hoặc phụ thuộc vào chính quốc. Sau quá trình xâm lược đó, các nước thực dân phương Tây sẽ tiến hành khai thác các nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và con người tại các nước thuộc địa để làm giàu cho quốc gia mình.

Đặc biệt, sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1939-1945), nhiều nước thuộc địa hoặc nước phụ thuộc vào chính quốc đã giành được độc lập từ tay chủ nghĩa phát xít. Do đó, các nước thực dân phương Tây đã tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược trở lại đối với các nước thuộc địa. Vì vậy, có thể khẳng định khái niệm “thực dân hóa” thực chất là quá trình xâm lược thuộc địa, khái thác các nguồn lợi tại thuộc địa và tái chiếm các thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây đối với các nước nhỏ yếu. - Ngân hàng Đông Dương: là một tổ chức đặc quyền của tư bản Pháp với 3 chức năng chủ yếu: phát hành giấy bạc (tiền giấy), kinh doanh thương mại và đầu tư tài chính.

Ngân hàng Đông Dương do một nhóm các nhà tài phiệt Pháp sáng lập ra vào ngày 21/01/1875 tại Thủ đô Paris của nước Pháp. Ngân hàng Đông Dương được Chính phủ Pháp ban cho đặc quyền phát hành giấy bạc trong thời hạn 20 năm và được Chính phủ Pháp tái gia hạn cho đặc quyền phát hành giấy bạc trong nhiều lần. Sau những lần tái gia hạn cho đặc quyền phát hành giấy bạc đó, Ngân hàng Đông Dương đã không ngừng kinh doanh phát đạt. Số hoa lợi thu được ngày càng nhiều.

Nhờ vậy, Ngân hàng Đông Dương đã trở thành chỗ dựa tài chính cho quá trình thực dân Pháp tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và khai thác các nguồn lợi tại Việt Nam mang về làm giàu cho chính quốc. Song song đó, Ngân hàng Đông Dương còn là nơi hậu thuẫn tài chính một cách đắc lực để thực dân Pháp quay lại tái xâm lược Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ hai. 8 - Chi nhánh Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam: là tập hợp các chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương đã khai trương và đi vào hoạt động kinh doanh ở Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc. Dưới thời kỳ Pháp thuộc, Hội đồng quản trị Ngân hàng Đông Dương ở Paris (Pháp) đã xây dựng được một hệ thống các chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương trên khắp lãnh thổ Việt Nam trải dài từ Bắc vô Nam.

Bao gồm: chi nhánh Sài Gòn (1875); chi nhánh Hải Phòng (1885); chi nhánh Hà Nội (1886); chi nhánh Đà Nẵng (1891); chi nhánh Nam Định (1926); chi nhánh Cần Thơ (1926); chi nhánh Vinh (1927); chi nhánh Quy Nhơn (1928); chi nhánh Huế (1929) và chi nhánh Đà Lạt (1943) (Phạm Quang Trung, 1997, tr. Mỗi chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam đều đặt một chức giám đốc; 2 phó giám đốc; 1 kế toán viên và các nhân viên giao dịch. Ở mỗi chi nhánh tại Việt Nam, Hội đồng quản trị Ngân hàng Đông Dương ở Paris đều cấp cho một số tiền vốn nhất định để hoạt động kinh doanh. Nếu chi nhánh nào mượn tiền của chi nhánh khác để kinh doanh (vì tìm kiếm được nhiều khách hàng) thì cũng phải trả lại tiền vốn cho chi nhánh đó và kèm theo một khoản lãi suất theo quy định của Hội đồng quản trị Ngân hàng Đông Dương ở Paris.

Cứ mỗi sáu tháng trong năm, các chi nhánh Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam đều phải báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của mình gửi về trụ sở chính ở Paris. Nếu các chi nhánh nào làm ăn thua lỗ hoặc hoạt động kém hiệu quả thì lúc đó, Hội đồng quản trị Ngân hàng Đông Dương ở Paris sẽ can thiệp và có những sự điều chỉnh phù hợp để giúp chi nhánh vượt qua, còn không sẽ đóng cửa chi nhánh. Ngược lại, nếu các chi nhánh ở Việt Nam kinh doanh có nhiều lợi nhuận thì các chi nhánh sẽ hoàn trả lại số tiền mà trụ sở chính ở Paris đã cho mượn, đồng thời, các chi nhánh này còn phải nộp về cho trụ sở chính ở Paris 1/4 số tiền lãi kiếm được (nộp 6 tháng/năm); 3/4 số tiền lãi còn lại, các chi nhánh có quyền: chi 2/4 số tiền lãi này cho các thành viên của chi nhánh và 1/4 số tiền lãi còn lại bỏ vào quỹ dự phòng của chi nhánh. Các chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam hoạt động hoàn toàn độc lập và không phụ thuộc vào nhau.

Điểm đặc biệt của các chi nhánh Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam là mỗi một chi nhánh có chức năng nhiệm vụ khác nhau. Do đó, các chi nhánh sẽ tránh được các rủi ro vì sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành dựt các khách hàng để tìm kiếm lợi nhuận. 9 - Viện phát hành tiền tệ của các Quốc gia Liên kết Việt Nam - Lào - Campuchia: là cơ quan phát hành tiền tệ của ba quốc gia thân Pháp do người Pháp dựng lên. Cơ quan này ra đời dựa trên các bản hiệp định đã ký kết giữa chính phủ Pháp với chính phủ bù nhìn Việt Nam ngày 8/3/1949; chính phủ bù nhìn Lào ngày 19/7/1949 và chính phủ bù nhìn Campuchia ngày 8/11/1949.

Sau khi ký xong hiệp ước với các chính phủ bù nhìn này, một thỏa ước Liên bang Đông Dương đã ra đời và quyết định thành lập một cơ quan lấy tên là Viện Phát hành các Quốc gia Liên kết Campuchia, Lào và Việt Nam (Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Vietnam). Cơ quan phát hành này đặt trụ sở chính tại Phnom Penh và có các chi nhánh tại Paris, Hà Nội, Huế, Sài Gòn và ở những nơi khác nếu cần. Ban quản trị của Viện Phát hành các quốc gia liên kết có 12 người gồm: 06 người Pháp, 02 người Việt, 02 người Miên và 02 người Lào. Cơ quan này bắt đầu hoạt động từ năm 1952 có nhiệm vụ phát hành giấy bạc cho ba quốc gia liên kết Việt Nam-Lào- Campuchia nằm trong Khối Liên hiệp Pháp sau khi Ngân hàng Đông Dương đã từ bỏ đặc quyền phát hành giấy bạc của mình và trao trả về cho Chính phủ Pháp quản lý.

Ngay tức khắc, thực dân Pháp đã nghĩ ra cơ quan siêu phát hành giấy bạc này để cột chặt ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia vào nước Pháp. Điều này được thể hiện bằng việc, Chính phủ Pháp đã giả vờ trao trả lại chủ quyền phát hành tiền tệ về cho ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia. Thế nhưng khi một trong ba quốc gia này muốn phát hành giấy bạc thì phải được sự đồng ý của hai quốc gia còn lại và phải có ý kiến đại diện của Chính phủ Pháp thì mới được phát hành tiền tệ. Điều này thật sự rất khó thực hiện cho ba quốc gia liên kết vì số thành viên đại diện cho tiếng nói của Chính phủ Pháp luôn áp đảo ba quốc gia liên kết.

Do đó, cơ quan này ra đời và hoạt động chẳng được bao lâu thì bị giải thể, vì chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, thực dân Pháp thất bại hoàn toàn và phải ký kết Hiệp định Genève, cam kết rút hết mọi dính líu trong cuộc chiến tranh tái xâm lược Đông Dương lần thứ 2. Cũng vì vậy chủ quyền phát tiền tệ của ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia được trao trả về cho ba quốc gia này. Ở miền Nam Việt Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ra đời, liền cho thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Ngay tức khắc, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam liền ấn định tiền tệ ở miền Việt Nam là 10 “đồng bạc Việt Nam (kí hiệu: đ)” để thay thế cho đồng bạc Đông Dương và đồng bạc Liên bang.

Ấn định tỷ giá hối đoái chính thức của đồng bạc Việt Nam với đồng Dollar Mỹ là: 35 đ = 1 USD và 1 đ = 10 Francs. Ở hai quốc gia còn lại cũng thành lập ngân hàng phát hành tiền tệ riêng cho mỗi nước. Quốc gia Lào là Ngân hàng Quốc gia Lào và quốc gia Campuchia là Ngân hàng Hoàng gia Campuchia. Tuy chỉ ra đời trong một khoảng thời gian ngắn (1952-1954), Viện Phát hành các Quốc gia Liên kết Việt Nam-Lào-Campuchia cũng đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hành giấy bạc cho lãnh thổ Đông Dương.

Những tờ giấy bạc này tiếp tục sử dụng các mẫu mã, kích cỡ, màu sắc cũ,. của những tờ giấy bạc do Ngân hàng hàng Đông Dương phát hành. Vì vậy, những tờ giấy bạc do Viện Phát hành các Quốc gia Liên kết Việt Nam-Lào-Campuchia vẫn được nhân dân ở ba nước Đông Dương (vùng lãnh thổ do thực dân Pháp kiểm soát) tín nhiệm và chấp nhận sử dụng trong lưu thông, trao đổi hàng hóa và tích lũy tài sản. - Giới tư bản tài chính: theo V.

Lenin nói: “tư bản tài chính là kết quả của sự hợp nhất giữa tư bản ngân hàng của một số ít ngân hàng độc quyền lớn nhất, với tư bản của những liên minh độc quyền các nhà công nghiệp”. Sự liên minh của hai nhóm độc quyền này đã tạo ra “giới tư bản tài chính”. Giới tư bản tài chính thông qua hình thức sở hữu cổ phần của nhau để nắm quyền chi phối và kiểm soát các đại công ty, các xí nghiệp và các ngân hàng lớn của một quốc gia. Từ đó, họ lũng đoạn thị trường, nắm quyền định đoạt giá cả, nguyên vật liệu đầu vào,.

để thu về nhiều lợi nhuận nhất. Lenin đã gọi nhóm tài phiệt này là “bọn đầu sỏ tài chính”. Ở Pháp, vào khoảng giữa thế kỉ XIX, sản xuất công nghiệp ngày càng phát triển, kéo theo đó là sự nở rộ của hệ thống các ngân hàng lớn ở Paris, Lyon. Do đó mà ông chủ của những nhóm sản xuất, kinh doanh này đã kết hợp nhau lại để hình thành nên “giới tư bản tài chính Paris”.

Nhóm tài phiệt này, sở hữu cổ phần trong các công ty, xí nghiệp và các ngân hàng lớn của nhau và trở thành những cổ đông quan trọng có tiếng nói quyết định trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Họ chia nhau nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong các công ty, xí nghiệp và các ngân hàng lớn ở Paris, Lyon. Nhóm tài phiệt này, cất kết chặt chẽ vào nhau, hỗ trợ nhau 11 trong việc lũng đoạn thị trường, định đoạt giá cả, nguyên vật liệu đầu vào,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Ngân hàng Đông Dương trong quá trình thực dân hóa của Pháp tại Việt Nam (1875-1954) là một nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của Ngân hàng Đông Dương trong bối cảnh lịch sử Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Tài liệu này không chỉ làm rõ cách thức ngân hàng này trở thành công cụ quan trọng trong quá trình thực dân hóa mà còn phân tích tác động kinh tế, chính trị và xã hội của nó đối với Việt Nam. Độc giả sẽ hiểu sâu hơn về sự phát triển của hệ thống tài chính thời kỳ này và cách nó định hình nền kinh tế hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến ngân hàng và tài chính, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh huy động vốn tiền gửi của BIDV Lạng Sơn, nghiên cứu này tập trung vào chiến lược huy động vốn hiệu quả. Ngoài ra, Luận văn hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại BIDV cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình thẩm định, một khía cạnh quan trọng trong hoạt động ngân hàng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh giải pháp phát triển hoạt động huy động vốn tại BIDV sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chiến lược phát triển nguồn vốn trong ngân hàng hiện đại.

Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, từ lịch sử đến thực tiễn hoạt động ngân hàng ngày nay.