Chương 1 của luận án, tác giả đã tập trung nghiên cứu đề làm rõ về khái niệm, bản chất của hợp đồng, khái niệm hiệu lực của hợp đồng, cơ chế pháp lý điều chỉnh hiệu lực của hợp đồng. Trong Chương 2 của luận án, tác giả đi sâu vào làm rõ: các điều kiện bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực, hình thức của hợp đồng - điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định; một số bất cập trong quy định hiện hành của pháp luật về hợp đồng trên cơ sở đó đề xuất hướng giải pháp hoàn thiện. Trong nội dung của chương 3, tác giả nghiên cứu để làm sáng tỏ về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thông qua việc nghiên cứu về khái niệm thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, quy định của pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Từ đó chỉ ra một số bat cập trong chính nội tại của quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.
Trên cơ sở đó, tác giả tiếp tục đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Đánh giá một cách tổng thể thì luận án tiến sĩ của tác giả Lê Minh Hùng tập trung nghiên cứu toàn diện về vấn đề hiệu lực của hợp đồng. Nội dung của luận án không đề cập chuyên sâu về GDDS có công chứng. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về hình thức của hợp đồng - điều kiện đảm bảo tính hiệu lực, nội dung được tác giả thể hiện tại trang 52-53 có đề cập đến hợp đồng được công chứng.
“Thực tiễn pháp lý Việt Nam có sự phân biệt giữa các loại văn bản “công chính chứng thư” và “tư chứng thư” [165, tr. Công chính chứng thư là văn bản được lập tại cơ quan công quyên, theo thủ tục luật định (chứng nhận hoặc chứng thực), trước mặt người có thẩm quyên (công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực, hoặc nhiều khi là quan tòa, thừa phát lại, lục sự, hoặc cơ quan lãnh sự). Tư chứng thư là văn bản do cá nhân hoặc người đại điện của hộ gia đình, tổ hợp tác tự mình lập ra bằng văn bản viết tay hoặc đánh máy, có chữ ký hoặc dấu vân tay của người lập ra văn bản đó, có thể có hoặc không có người làm chứng. Pháp luật Việt Nam hiện hành (như LCC 2006, Nghị định 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007) có quy định cụ thể về thể thức, thủ tục lập các loại "công chính chứng thư”, nhưng lại không có những quy định rõ ràng, cụ thể về cách lập “tr chứng thư”, trừ một số trường hợp đặc biệt, như đi chúc lập bằng văn bản viết tay hoặc văn bản nhờ người khác viết hộ trước mặt nhân chứng là có quy định cụ thể, chỉ tiết (15, các Điều 649, 650, 652 và Điêu 653-656J.
Về phương diện chứng cứ, văn bản được công chứng, chứng thực có độ tìn cậy cao hơn so với văn bản thông thường. Bởi vậy, trong thực tiễn, đối với những hợp đông quan trọng hoặc có giá trị lớn thì người ta thường lập bằng hình thức văn bản có công chứng, chứng thực ”. Nội dung này chưa được tác giả quan tâm nghiên cứu sâu nhưng đối với luận án của NCS, kiến thức này có giá trị gợi mở và tạo nền tảng để NCS có thể khai thác và tiếp tục phát triển trong công trình nghiên cứu của mình. + Luận án tiến sĩ Luật học của Nguyễn Thùy Trang (2017) có tiêu đề: “Hợp đồng chuyển nhượng quyên sử dụng đất ở theo quy pháp luật hiện hành của Việt Nam”.
Tác giả Nguyễn Thùy Trang đã xây dựng kết cấu luận án của mình thành 3 chương gồm: “Chương 1: Lý luận cơ bản về hợp đông chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp dong chuyén nhuong quyén sử dụng đất; Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp và hướng hoàn thiện về hop đông chuyển nhượng quyên sử dụng đất ”'?. Đây là luận án được tác giả tập trung nghiên cứu về hợp đồng chuyền nhượng quyền sử dụng đất ở, nhưng trong nội dung của Chương l tại trang 88 khi nghiên cứu về “hình thức, thủ tục và thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở”, tác giả cũng đã có nội dung nhỏ nghiên cứu đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở được công chứng. Việc nghiên cứu của tác giả tuy chưa đầy đủ nhưng luận án đã đề cập đến một số khía cạnh của hợp đồng chuyền nhượng quyền sử dụng đất ở được công chứng, cụ thể: “Pháp luật quy định hình thức, thủ tục đối với hợp đồng: Bằng văn bản và phải công chứng, chứng thực, đăng ký (kiêm soát của Nhà nước và bên thứ ba) [3, Điều 502; 16, Điều 122; 12, điểm a khoản 4 Điều 95; 15, khoản 2, khoản 3 Điều 17J. Theo LĐĐ 2013, việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đắt, góp vốn bằng quyên sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng kg đất đai và có hiệu lực kế từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính [12, khoản 7 Điều 95, khoản 3 Điều 188J.
Theo pháp luật đất đai, việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyên của người sử dụng đất được áp dụng khi: Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyên sử dụng đất, quyên sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bắt động sản quy định tại điểm b khoản này; Hợp đông cho thuê, cho thuê lại quyên sử dụng đất, quyên sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, HĐCNOSDĐ, quyên sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tô chức hoạt động kinh doanh bắt động sản được công chứng, chứng thực theo yêu câu của các bên” [12, khoản 2 Điều 167J. Theo LNƠ 2014, trường hợp mua bán, 12. Nguyễn Thùy Trang (201 7), Hop đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, Luận án tiên sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. tặng cho, đổi, góp vốn, thé chap nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải công chứng, chứng thực hợp đông (trừ quy định tại khoản 2 Điều 122 LNƠ 2014) và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng [16, khoản 1 Điều 122].
LKDBĐS 2014 quy định “Hop dong kinh doanh bất động sản phải được lập thành văn bản. Việc công chứng, chứng thực do các bên thỏa thuận, trừ hợp đồng mua bán, thuê mua nhà, công trình xây dựng, HDCNOSDĐ mà các bên là hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này thì phải công chứng, chứng thực " [15, khoản 2 Điều 17J ”. + Luận án tiễn sĩ Luật học của Đặng Văn Khanh (2000) có tiêu đề: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định về phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng của nhà nước ta hiện nay”. Đây là luận án tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về pháp luật công chứng.
Nội dung của luận án tập trung đi sâu vào nghiên cứu về: những vấn đề lý luận về xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng; thực trạng pháp luật về phạm vi, nội dung và giá trị pháp lý của văn bản công chứng; trên cơ sở đó tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật công chứng về xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng trong hệ thống pháp luật Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu. Tại Chương 1, tiểu Mục I.3, trang 22-33 của luận án, tác giả đã nghiên cứu và xây dựng khái niệm công chứng. Tiếp sau đó, tại Mục 1.5, trang 56-72, Chuong I của luận án, tác giả đã tập trung và nghiên cứu về giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Với phạm vi và mục đích nghiên cứu của một luận án chuyên ngành hành chính, cho nên luận án mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng khái niệm công chứng, giá trị pháp lý của công chứng mà luận án không tập trung nghiên cứu về lý luận của GDDS có công chứng như xây dựng khái niệm GDDS có công chứng; chỉ ra những đặc điểm của GDDS phải thực hiện theo thủ tục công chứng, luận án cũng chưa giải quyết về vấn đề hiệu lực của GDDS có công chứng.
+ Luận án tiễn sĩ Luật học của Dương Khánh (2002) có tiêu đề: “Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay ”. Trong luận án, tác giả Dương Khánh đã tập trung nghiên cứu để làm rõ cơ Sở lý luận về tổ chức hoạt động công chứng nhà nước, cũng như nghiên cứu về thực 20 trạng của tô chức và hoạt động công chứng nhà nước. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất phương hướng và giải pháp đối với hoạt động công chứng Nhà nước. Tuy nội dung của luận án tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước mà chưa tập trung nghiên cứu đến tổ chức hoạt động của công chứng tư, nhưng tại Chương l của luận án (từ trang 10-41), tác giả Dương Khánh cũng đã tập trung nghiên cứu về khái niệm công chứng, đặc điểm vai trò của công chứng nhà nước với hoạt động tư pháp và xã hội.
Tuy nhiên, khái niệm công chứng được tác giả xây dựng mới chỉ dựa trên các quy định hiện hành của pháp luật về công chứng tại thời điểm nghiên cứu mà chưa đề cập đến trình tự, thủ tục công chứng đề đảm bảo được vị trí, vai trò của hoạt động công chứng. + Luận án tiến sĩ Luật học của Tuấn Đạo Thanh (2008) có tiêu đề: “Nghiên cứu so sánh pháp luật về công chứng một số nước trên thế giới nhằm góp phân xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay ”. Luận án tiến sĩ của tác giả Tuân Đạo Thanh là công trình nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam triển khai các nội dung về công chứng trong sự so sánh một cách toàn diện với công chứng trên thế giới. Luận án được tác giả thiết kế gồm ba chương gồm: Chương 1.
Những nội dung cơ bản của pháp luật công chứng của một số quốc gia trên thế giới; Chương 2.