phần mở đầu. Phần này tác giả chia làm 3 tiết. Tiết 1 - Tiền tệ Đông Dương, chia thành 3 giai đoạn phát triển chính. Nhờ thế, tác giả đã cho ta cái nhìn khái quát về quá trình lƣu thông tiền tệ ở Việt Nam thời Pháp thuộc.
15 Tiết 2 - Ngân hàng Đông Dương, tác giả nói về vai trò chúa tể của Ngân hàng Đông Dƣơng trong đời sống kinh tế - tài chính của thuộc địa. Ở trang 25, nói đến vai trò tiền tệ của Ngân hàng Đông Dƣơng, khoản lợi nhuận mà ngân hàng đã đạt đƣợc nhờ vào đặc quyền phát hành. Tác giả có cả bảng tổng kết tiền lãi và hoạt động kinh doanh do Ngân hàng Đông Dƣơng thực hiện trong các vùng đất thuộc Pháp ở hải ngoại và ở nƣớc ngoài (trang 30). Tiết 3 - Tài chính công, nói về những khoản thu và chi của ngân sách Đông Dƣơng.
Phần thứ nhất, chƣơng II, tiết 3 (Khối lượng tiền lãi ròng do một số công ty vô danh thực hiện) ở trang 80, tác giả cho ta biết Ngân hàng Đông Dƣơng vừa là Ngân hàng Kinh doanh vừa là Ngân hàng Phát hành. Phần thứ hai, từ trang 110, nói về sự cấu thành một khu vực kinh tế hiện đại với một hạ tầng cơ sở kinh tế đƣợc xét cả về hai mặt định lƣợng và định tính, và với những hoạt động của các nhà máy, các khu mỏ, các đồn điền lúa và cao su; cuối cùng là các tác động của khu vực kinh tế hiện đại đó đến kinh tế địa phƣơng xét về cả hai mặt xã hội và kinh tế. Có thể nói những thống kê, phân tích và biện luận của J.Aumiphin đã cung cấp cho chúng ta một nguồn sử liệu quý, một cái nhìn tổng quát về sự hiện diện nền tài chính của Pháp ở Việt Nam và chủ yếu là tài chính công. Đánh giá về cuốn sách, Giáo sƣ Đinh Xuân Lâm cho rằng, J.Aumiphin đã nêu rõ đƣợc những biến đổi sâu sắc mà bộ máy cai trị thuộc địa và các nhóm tài chính của nƣớc Pháp mang lại cho xứ Đông Dƣơng và đã góp phần vào việc hiện đại hóa nền kinh tế Đông Dƣơng trƣớc khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.
Có lẽ do Ông mang trong ngƣời dòng máu Việt - Pháp (thân mẫu của ông là ngƣời Việt Nam) nên trong tác phẩm, ông đã viết với một tinh thần khách quan và trung thực. Một mặt tác giả Aumiphin ghi nhận sự đóng góp tích cực của Nhà nƣớc Pháp, mặt khác ông cũng đề cập tới mặt tiêu cực của sự hiện diện tài chính của Pháp, ông đã khẳng định rằng trong suốt một thời gian dài, nhà nƣớc thực dân chƣa hề có một chính sách phát triển kinh tế Đông Dƣơng một cách có hệ thống và chặt chẽ. 16 Quyển sách cũng cho ta thấy đƣợc sự ƣu ái của chính quyền thuộc địa đối với Ngân hàng Đông Dƣơng. Vì trong quá trình xâm lƣợc Việt Nam, vấn đề tài chính của Pháp đƣợc ký thác tại Ngân hàng Đông Dƣơng.
Vì thế, ngân hàng sẽ thay mặt nhà nƣớc chi trả những khoản tiền lấy từ nguồn tài chính công, đồng thời ngân hàng có thể dùng nguồn tài chính này để tái đầu tƣ đem lại lợi nhuận lớn cho hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, ngƣời đọc vẫn luôn chờ mong tác giả phân tích sâu hơn về hoạt động kinh tế - tài chính của Ngân hàng Đông Dƣơng, và tác động của tổ chức đó đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội thuộc địa. Tất nhiên cũng rất thông cảm với tác giả dù rất có ý thức rằng nghiên cứu sự hiện diện của Pháp ở Đông Dƣơng trong thực tế là sự phân tích trong chiều sâu của nó “sự có mặt khắp nơi của ngân hàng đó” - “quả tim và trung tâm thần kinh của kinh tế Đông Dương” theo cách diễn đạt của nhà sử học Pháp Philippe Devillers - nhƣng đã gặp khó khăn trong việc khai thác các tài liệu lƣu trữ của Ngân hàng Đông Dƣơng. Mặc dù vậy, công trình “Sự hiện diện Tài chính và Kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1859-1939)” của J.Aumiphin là một công trình khoa học khẳng định vai trò quan trọng của sự hiện diện kinh tế và tài chính Pháp ở Đông Dƣơng.
Để có cái nhìn khái quát về bản chất của tiền tệ và lƣu thông tiền tệ thì phải kể đến công trình Tư Bản quyển thứ nhất, tập I của C.Mác đƣợc NXB Sự thật, Hà Nội, dịch từ bản tiếng Đức sang tiếng Việt và cho xuất bản năm 1976. Trong quyển thứ nhất - Quá trình sản xuất của tƣ bản, tác giả đề cập đến 3 nội dung lớn, đó là: I. Hàng hóa và tiền tệ; II. Sự chuyển hóa của tiền thành tƣ bản; III.
Sự sản xuất ra giá trị thặng dƣ tuyệt đối. Liên quan đến đề tài là phần I. Hàng hóa và tiền tệ, đề cập đến bản chất và các chức năng của tiền. Tác giả cũng đề cập đến quy luật lƣu thông của tiền giấy và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến lạm phát trong nền kinh tế.
Qua công trình, C.Mác đã giúp cho tác giả có những hiểu biết về sự lƣu thông tiền tệ và quy luật phát triển của nền kinh tế, điều này giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận án. Trong số những công trình đó phải kể đến công trình của kỹ sƣ trƣởng A. Ông là Tổng Thanh tra Công chính Đông Dƣơng với công trình 17 nghiên cứu Les Travaux Publics Del’Indochine xuất bản năm 1926. Công trình này đã đƣợc Kỹ sƣ Nguyễn Trọng Giai dịch ra tiếng Việt với nhan đề “Các công trình giao thông công chính Đông Dương” đƣợc NXB Giao thông vận tải xuất bản năm 1998, bao gồm 2 phần: Phần mở đầu có 5 chƣơng và phần thứ hai nói về khai thác (tổng cộng 219 trang).
Liên quan đến đề tài, tác giả nói về tuyến đƣờng sắt, đặc biệt là đoạn đƣờng sắt đi Vân Nam. Vì đây là tuyến đƣờng sắt đƣợc chính quyền thuộc địa nhƣợng cho Công ty hỏa xa Vân Nam bỏ vốn xây dựng và đƣợc trực tiếp khai thác. Trang 38 cho ta biết, năm 1924 công ty đã nộp cho Chính phủ Liên bang ngoài số tiền trả lãi về công trái là 550.000$ bằng khoảng 0,9% số vốn do Liên bang bỏ ra. Hệ thống đƣờng sắt do Liên bang tự khai thác, sau khi trừ mọi chi phí cũng cho một số thực lãi là 281.000$ khoảng 0,34% số vốn bỏ ra.
Đoạn Hải Phòng - Lào Cai đƣợc đề cập ở trang 156.Pouyanne là Tổng Thanh tra Công chính Đông Dƣơng nên trong tác phẩm của mình, ông đã đề cập khá cụ thể các biện pháp đầu tƣ và khai thác nhằm mang lại hiệu quả của những công trình đã thiết lập. Để có đƣợc những nội dung cụ thể, tác giả đã tổng kết công tác xây dựng của Pháp từ khi bắt đầu xâm chiếm cho đến năm 1925, qua đó giúp ngƣời đọc có thể hiểu phƣơng thức kinh doanh và quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực giao thông công chính của ngƣời Pháp trƣớc đây. Có lẽ do ông là ngƣời Pháp và đứng ở cƣơng vị là Tổng Thanh tra Công chính Đông Dƣơng nên trong tác phẩm, tác giả đã phần nào hạn chế đề cập đến thành quả lao động, mồ hôi nƣớc mắt, kể cả xƣơng máu của hàng chục vạn ngƣời dân Đông Dƣơng đã đổ ra để xây dựng nên các công trình này. Trong cuốn Histoire de la Banque de l’Indochine (1875-1975) của Marc Meuleau, ở chƣơng X, cung cấp những thông tin về việc phát triển của ngành ngoại thƣơng, đó là việc tài trợ cho các thƣơng vụ lớn và việc hối đoái.
Trang 466-467 cho biết: trong quá trình hoạt động, Ngân hàng Đông Dƣơng đã phải cạnh tranh với nhiều ngân hàng khác cũng có mặt tại Việt Nam. Mặc dù vậy Ngân hàng Đông Dƣơng vẫn giữ đƣợc vị trí của mình. Chƣơng XI, đề cập đến tín dụng cho vay của ngân hàng tại Việt Nam. Chƣơng XIII, nói về việc Ngân hàng Đông Dƣơng phải từ bỏ ƣu quyền phát hành tiền tệ của mình từ ngày 25/9/1948 (trang 663).
18 Tác giả Naville Pierre với công trình La guerre du Việt Nam, Paris, 1949. Trang 109 cho biết, số vốn của Ngân hàng Đông Dƣơng năm 1946 là 157,5 triệu francs; đó là vốn biểu hiện trên sổ sách nhƣng thực tế trị giá trên thị trƣờng chứng khoán (bourse) là 3.780 triệu francs, nghĩa là hơn gấp 24 lần. Nói về chức năng phát hành tiền tệ của Ngân hàng Đông Dƣơng đã có nhiều tác giả đề cập đến, nhƣ Vally với cuốn Các ngân hàng thuộc địa phát hành Pháp, Paris, 1923; A. Toujet với cuốn Le régime monétaire Indochinoise (Chế độ tiền tệ Đông Dương), Paris, 1939.
có liên quan đến luận án ở nhiều mức độ khác nhau cũng đƣợc chúng tôi tiếp cận và tham khảo. Các tạp chí chuyên ngành nhƣ Bulletin économique de l’Indochine (Tập san Kinh tế Đông Dƣơng), Annuaire statistiques de l’Indochine (Niên giám thống kê Đông Dƣơng), Journal Officiel de l’Indochine française (Công báo của Đông Dƣơng thuộc Pháp), L’Eveil économique de l’Indochine (Sự thức tỉnh kinh tế Đông Dƣơng), Bulletin officiel de la Cochinchine française… là những nguồn tài liệu tham khảo dày dặn, có giá trị rất lớn về lịch sử kinh tế, tài chính Đông Dƣơng. Quan trọng nhất là những nghị định, sắc lệnh, những vấn đề liên quan đến Việt Nam thời thuộc Pháp đều đƣợc công bố trên các tạp chí này. Các công trình nghiên cứu của các tác giả người Việt Nam Bên cạnh nguồn tƣ liệu lƣu trữ, nguồn tƣ liệu do các tác giả nƣớc ngoài viết thì nguồn tƣ liệu do các tác giả trong nƣớc viết cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu.
Đề tài tiền tệ Việt Nam thời Pháp thuộc đã thu hút nhiều tác giả nghiên cứu. Trong số những tác giả nghiên cứu về tiền tệ nổi bật là tác giả Phạm Thăng với công trình nghiên cứu Tiền tệ Việt Nam theo dòng lịch sử, NXB Trung tâm văn hóa Việt Nam tại Tây Đức (1990) và tái bản lần thứ hai vào năm 1995 tại Canada, viết về tiền tệ Việt Nam là rõ nét nhất với tổng cộng 463 trang.