CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Đại cương về các hoá chất bảo vệ thực vật có nguồn gốc cơ clo Hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) là các hoạt chất để sản xuất thuốc bảo vệ thực vật hoặc dùng để diệt các loại côn trùng truyền bệnh cho người và gia súc (muỗi, gián, chuột. HCBVTV gồm các nhóm: - Các dẫn xuất của các hợp chất vô cơ như asen, thuỷ ngân, kẽm. - Các dẫn xuất của các hợp chất hữu cơ photpho, clo, cacbamat, pyrethroit.
Hằng năm trên thế giới sử dụng khoảng 2,5 triệu tấn (năm 1997) thuốc bảo vệ thực vật với 800 loại hoá chất được biết qua 21.000 loại sản phẩm [44], phần lớn được sử dụng tại các nước nông nghiệp phát triển. Ở Việt Nam, thuốc bảo vệ thực vật được dùng với số lượng ngày càng tăng cùng với sự tăng diện tích canh tác. Theo số liệu thống kê, năm 1985 cả nước đã sử dụng khoảng 9.000 tấn, năm 1998 dùng khoảng 42.700 tấn, khu vực sử dùng nhiều nhất là vùng châu thổ sông Cửu Long [10]. Trong các loại HCBVTV đã dùng trên thế giới, có nhiều loại có thời gian phân huỷ rất chậm, chẳng hạn thời gian bán huỷ của diclodiphenyltricloetan (DDT) trong nước khoảng 150 năm, trong đất khoảng 2 — 15 năm [65], vì thế lượng dư của nó tồn lưu trong môi trường sau thời gian sử dụng đến hàng chục năm sau.
Dưới tác động của các hiện tượng như gió, mưa, bay hơi, lũ lụt, dòng sông, các dòng hải lưu. hoặc do các loài động vật nhiễm các HCBVTV có tập quán sống di trú mà HCBVTV phát tán đến khắp nơi trên trái đất. Tương tự như các HCBVTV, các HCBVTV cơ clo do có hoạt tính sinh học cao nên ngoài chức năng bảo vệ thực vật hoặc tiêu diệt côn trùng và động vật có hại khác, chúng còn gây ảnh hưởng xấu tới hệ sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người qua tiếp xúc với môi trường hoặc qua dây chuyền thức ăn nên được nhiều nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu. Một số tính chất cơ bản của một vài HCBVTV cơ clo 1.
Diclodiphenyltricloetan (DDT) - Công thức phân tu: CCI; C,,H,Cl; (M=354,5 đvc) - Tén hoa hoc (theo IUPAC) : Ci (> 1,1,1 trichloro-2,2 - ẽ cl bis(4-chlorophenyl) ethane - Tên thường dùng: Diclodiphenyltricloetan [35] DDT có các đồng phan: p,p’-DDT, 0,0’- DDT va o,p` — DDT; DDT kỹ thuật (chứa khoảng 70% p,p`-DDT và 30% các đồng phân còn lại) được nhà hoá học Zeidler tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1874 khi ngưng tụ clobenzen với tricloacetaldehyd, năm 1939 được Mueller phát hiện ra khả năng trừ sâu của nó. p;p`-DDT có dang tinh thể không màu, nhiệt độ nóng chảy (t„ ) = 108,5°C, áp suất hơi bão hoà (P°) ở 20°C là 0,025 mPa. Các DDT thực tế không tan trong nước, tan nhiều trong các dung môi hữu cơ không phân cực như diclometan, n- hecxan, benzen, ete dầu hoa. Các DDT bị phan huỷ (mất clo trong phân tử) ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ nóng chảy.
Trong môi trường, chúng có thời gian bán huỷ rất chậm tuỳ thuộc vào môi trường mà nó tồn tại: trong không khí 2 ngày, trong đất 2-15 năm [66] còn trong nước là 150 năm [65]. Trong nước và trong đất, các DDT bi phân huỷ bởi các phản ứng quang hoá hoặc các vi khuẩn [94], DDT khá bền với chất ôxy hoá, nó bị ôzôn ôxy hoá rất chậm trong dung dịch nước, tuy nhiên tốc độ ôxy hoá sẽ tăng nhanh nếu chiếu tia tử ngoại [61]. pp-DDT bị đề hydrocloua trở thành 1,I-diclo-2,2-bis(4- clorophenyl)etylen (DDE) ở nhiệt độ gần nhiệt độ nóng chảy hoặc dưới ánh sáng tử ngoại; trong dung dịch, nó bị đề hydrocloua khi có sắt [59], hoặc bị kiểm phân huỷ [4], vì vậy không bảo quản DDT trong thùng sắt, những nơi không được che nắng hoặc ở những nơi có nhiệt độ cao hơn 50°C. Hexaclocyclohexan (HCH) CI EI - Công thức phân tử : C,H,CI, (M=290,85 dvc) - Tén hoa hoc (theo IUPAC) : 1,2,3,4,5,6-hexachlorocyclohexane ` Va GÌ - Tên thường dùng: Lindan [36] „ HCH là sản phẩm của phản ứng clo hoá benzen dưới tác dụng của tia tử ngoại, nó không có tính chất vật lý chính xác.
HCH có 8 đồng phân hình học: a (1,2,4/3,5,6), B (1,3,5/2,4,6), y (1,2,4,5/3,6), 5 (1,2,3,5/4,6), e (1,2,3/4,5,6), eta (1,2,3,4/5,6), theta (1,2,3,4,5/6) va zeta (1,2,3,4,5,6/0); trong đó đồng phan y được dùng phổ biến nhất và có tên gọi là lindan. y - HCH là tinh thể không màu được tách ra khi kết tinh lại HCH; có t,, = 112°C; áp suất hơi bão hoà (P°) ở 20°C là 5,6 mPa; tan ít trong nước (7mg/] nước 20°C); tan nhiều trong axeton, benzen, và nhiều dung môi ít hoặc không phân cực khác; có mùi khó chịu. HCH dễ bị thuỷ phân bởi kiểm (thời gian thuỷ phân toàn lượng y-HCH ở pH=7 là 191 ngày còn ở pH=9 là 11 giờ). Gan đây có công trình 1.
Endrin - Công thức phan tử [38]: C,,HsCl,O (M= 380,93dvc) - Tên hoá hoc (theo IUPAC): (1R,4S,4aS,5S,6S,7R,8R,8aR)- 1,2,3,4,10,10-hexachloro-1,4,4a,5,6,7,8,8a- octahydro-6,7-epoxy-1,4:5,8 dimethanonaphthalene - Tên thường dùng: Endrin Endrin là tinh thể không màu, có mùi sốc, t„¿ = 175-176°C, P° ở 20°C là 1,8. Endrin là hợp chất bền trong môi trường, trong nước thời gian bán huỷ của nó là hơn 11 năm [23]. te ĐẠI HỌC QUỐC GIA HA NỘI | TRUNG TÂM THONG TIN THU MIEN 17 ———————— —~__ W-L1/240 | 1. Aldrin a Cl - Công thức phan tử [37]: C,,HsCl, (M = 364,93 dvc) - Tén hoa hoc (theo IUPAC): Cl (1R,4S,4aS,5S,8R,8aR)-1,2,3,4,10,10- Œ hexachloro-1,4,4a,5,8,8a-hexahydro-1 ,4:5,8-dimethanonaphthalene.
- Tên thường dùng: Aldrin Aldrin là tinh thé không màu, có mùi sốc, t„. Aldrin là hợp chất bền trong môi trường, trong nước thời gian bán huỷ của nó là 360 ngày [23] 1. Độc tính của một số HCBVTV cơ clo Độc tính của các chất thường được biểu diễn qua liều gây chết 50% cá thể động thực vật thí nghiệm (Letal doses 50) ký hiệu là LD, [21]. - Độc tính của DDT Đối với người, theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) và tổ chức Lương Nông Liên hợp quốc (FAO), lượng DDT hấp thu hang ngày tối đa cho phép không quá 5ug/kg thể trọng/ngày [45].
Đối với chuột: liều cấp tính qua miệng LD.) = 113+118mg/kg trọng lượng cơ thể; liều cấp tính qua da LD, = 2510mg/kg; nếu nhiễm vào cơ thể mỗi ngày Img/kg thì sau 160 ngày chuột sẽ chết. DDT được tích luỹ trong mỡ và chuyển vào sữa; nếu người đàn ông ăn 35mg/người /ngày (cỡ 0,5mg/kg/ngay) thì sau 1,75 năm có thể bị đau ốm. DDT có tác động rõ rệt lên hệ thống thần kinh ngoại biên, gây nên sự rối loạn hệ thống thần kinh (nếu ăn phải lượng lớn DDT thì bị co giật và lên cơn đau thần kinh), ức chế các enzim chức năng đòi hỏi sự dịch chuyển các ion dẫn đến tê liệt hoạt động của cơ thể [4], [66]. Chính vì những lý do trên và DDT tích luỹ trong dây chuyền thức ăn dẫn đến gây hại đến sức khoẻ con người nên từ những năm 1970, WHO đã khuyến 18 cáo các quốc gia thay thé DDT bằng những hoá chất kém bền hon va ít tích luy trong cơ thể [43].
Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đã cấm sử dụng DDT từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước [4]. Năm 2002, khi nghiên cứu về sự liên quan giữa bệnh ung thư với những người tiếp xúc với với DDT, Vibha Mathur và những người khác [83] đã cho thấy trong máu và mỡ các bệnh nhân bị ung thư vú ở phụ nữ ở vùng Jaipur (Ấn độ) có hàm lượng tổng các DDT cao hơn nhóm người đối chứng, đây có thể là bằng chứng về sự liên quan giữa sự hàm lượng các DDT có trong cơ thể người và bệnh ung thư vú ở phụ nữ [105]. - Độc tính của y-HCH: Độc tính của y-HCH đối với động vật có vú thay đổi tuỳ thuộc vào điều kiện thử nghiệm: đối với chuột LD.) (liều cấp tính qua đường miệng) = 59+270mg/kg trọng lượng co thể, LD, (liều cấp tính qua da) = 900+1000mg/kg; nếu mỗi ngày cung cấp thường xuyên với liều lượng 25mg/kg (đối với chuột) và 50mg/kg (đối với chó) thì các động vat thử nghiệm sẽ chết sau 2 năm. Đối với động vat không có vú như chim cút đuôi trắng LD., = 120+130mg/kg trọng lượng cơ thể, cá nước ngọt nếu tiếp xúc trong 48 giờ sẽ có 50% cá thí nghiệm bi chết nếu trong nước có hàm lượng 0,16mg/1 (đối với cá đực) hoặc 0,30mg/1 (đối với cá cái).
Tương tự như DDT, beta-HCH cũng có khả năng gây ung thư ở người [83], [105]. - Độc tính của endrin đối với động vật có vú (chuột) các giá trị LD.) không cố định và phụ thuộc vào điều kiện thí nghiệm: LD.) (qua miệng) là 10 + 12mg/kg trọng lượng co thể; LD. - Độc tính của aldrin: đối với động vật có vú các giá tri LD;o không cố định và phụ thuộc vào điều kiện thí nghiệm, chang hạn đối với chuột LD;; (qua miệng) là 38 + 67mg/kg trọng lượng co thể, còn đối với thỏ LD,, (qua miệng) là 50 + 80 mg/kg [23]. Các tác giả [105] cho thấy có mối liên quan giữa aldrin với bệnh ung thư vú ở phụ nữ.
Các phương pháp xác định HCBV TY co clo đã được sử dụng Để xác định một chất (hoặc cấu tử) nói chung, HCBVTV nói riêng, cần phải tiến hành các giai đoạn: xác định đối tượng phân tích; lấy và chuẩn bị mẫu; xác định phương pháp định lượng, tách và làm giàu; đo lường và đánh giá kết quả phân tích. Với các HCBVTV cơ clo, do tính chất hầu như không tan trong nước, tan tốt trong các dung môi không phân cực hay ít phân cực [35], [36], [37], [38]. vì vậy trong các mẫu môi trường (đất, nước, sinh vật) chúng thường được chiết bằng các dung môi không hoặc ít phân cực như n-hexan (nhiệt độ sôi 68,7°C), diclometan (nhiệt độ sôi 39°C), 2-propanol (nhiệt độ sôi 82,3°C), cyclohexan (nhiệt độ sôi 80,7°C) axetonitril (nhiệt độ sôi 81,6°C),. Phương pháp lấy và bảo quan mẫu 1.
Lấy mẫu + Xác định điểm lấy mẫu và lượng mẫu phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Điểm lấy mẫu phải đại diện cho khu vực cần xác định hàm lượng chất cần phân tích, đối với các mẫu môi trường phải đảm bảo các đặc điểm về khí hậu, thủy văn và thời gian lấy mẫu. Các điểm lấy mẫu được chọn sao cho phân bố đều đồng thời phải đặc trưng cho vùng nghiên cứu [86]. - Lượng mẫu phải đủ để phân tích (lượng chất cần phân tích có trong mẫu phải phù hợp với phương pháp định lượng). + Dụng cụ lấy và chứa mẫu phải phù hợp với đối tượng mẫu cần lấy, không được gây nhiễm bẩn mẫu [84].
Bao bì đựng mẫu phải thuận tiện cho việc bảo quản và chế biến mẫu. Bảo quản mẫu Mẫu sau khi lấy phải được bảo quản cẩn thận, giữ được trạng thái vật lý của mẫu trước khi đưa đi phân tích [85].