CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VE CHUYEN DICH CƠ CẤU NGANH KINH TE ĐÁP UNG YÊU CAU CNH, HĐH Nhận thức được tam quan trọng của CCNKT và chuyên dịch CCNKT, nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức thực tiễn đã có những nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này và đã có những đóng góp nhất định cả về mặt lý luận và thực tiễn. Số lượng các công trình nghiên cứu về cơ cau kinh tế và chuyển dich CCNKT ở trong và ngoài nước rất phong phú và đa dạng. Các nghiên cứu về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Các nghiên cứu nước ngoài Về cơ cấu kinh tế (CCKT), đã có nhiều lý luận được đề cập đến từ khá lâu trong lich sử như Kuznets S (1961) quan niệm cơ cấu kinh tế là một khung mach lạc của các bộ phận có quan hệ với nhau ma mỗi bộ phận có vai trò riêng biệt nhưng lại có cùng một số mục tiêu chung.Porter (1990) khi bàn về vai trò của cơ cầu kinh tế đã nhắn mạnh van đề lợi thé so sánh động và ảnh hưởng của nó tới việc hình thành những ngành, những sản phẩm có sức cạnh tranh cao và kết quả là hình thành một cơ cau ngành kinh tế có khả năng sinh lời cũng như khả năng cạnh tranh trong mọi tình huống.
Theo tác giả, việc tái cơ cấu kinh tế của mỗi nước phải chú ý phát huy lợi thé so sánh, lợi thế cạnh tranh dé hình thành sản phẩm công nghiệp chủ lực và có quyết định đúng dan về chính sách xuất nhập khẩu. Như vậy, cơ cấu kinh tế là tổng thé các bộ phận của nén kinh tế, có mối quan hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ với nhau về mặt chất. Các bộ phận kinh tế tác động qua lại với nhau trong cùng một không gian và thời gian nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Ở khía cạnh nghiên cứu khác, tác giả Just Yifu Lin (2010) đề xuất lý thuyết cơ cấu mới dựa trên nguyên tắc: (1) lợi thế so sánh của nền kinh tế được xác định bởi nhân tố đầu vào và cơ cấu kinh tế có sẵn tại bất kỳ mức độ phát triển cụ thể và khác nhau từ mức độ này sang mức độ khác, (2) mỗi cấp độ phát triển kinh tế là một điểm trong quá trình liên tục, quy mô của phát triển kinh tế trong thực tế mở rộng từ hoạt động nông nghiệp truyền thống có thu nhập thấp đến công nghiệp phát triển có thu nhập cao, (3) căn cứ vào lợi thế so sánh của mình dé xây dựng các ngành công nghiệp li là cách tốt nhất đề các quốc gia phát triển duy trì nâng cấp công nghiệp và tăng trưởng kinh tế.
Về chuyển dich cơ cấu kinh tế, đã có rat nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những lý thuyết khác nhau về chuyền dich cơ cau kinh tế trong quá trình phát triển. Chenery (1988) và Syrquin M (1988) là những tác giả tiêu biểu đã có đóng góp lớn trong hoàn thiện các quan điểm, khái niệm về chuyên dịch CCKT. Trong các nghiên cứu của mình, các tác giả cho thấy mỗi quốc gia, mỗi địa phương trong quá trình phát triển cần phải tìm cho mình những cách chuyền dịch CCKT một cách hiệu quả trên cơ sở phát huy được yếu tố nội lực, lợi thé so sánh và tận dụng được những lợi thế từ bên ngoài. Chenery (1988) quan niệm chuyền dịch cơ cấu kinh tế là các thay đôi về cơ cau kinh tế va thé chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tông sản phẩm quốc dân, bao gồm sự tích lũy của vốn vat chất và con người, thay đôi nhu cau, sản xuất, lưu thông và việc làm, đồng thời kém theo các qua trình kinh tế - xã hội như đô thị hóa, biến động dân sé, thay đổi thu nhập,.
Syrquin M (1988) đã mô tả quá trình chuyên dịch cơ cấu kinh tế gồm 3 giai đoạn: (1) sản xuất nông nghiệp, (2) công nghiệp hóa và (3) nền kinh tế phát triển. Thông qua lý thuyết chuyên dich cơ cau của mình, Syrquin đã vẽ nên một bức tranh tông thể khá chính xác về sự phát triển và chuyên dịch CCKT trên thế giới thời kỳ hiện đại đồng thời cũng cho thấy mỗi quốc gia, mỗi địa phương cần phải biết phát huy nội lực và những lợi thế của mình trong việc thực hiện chuyên dịch CCKT. Các nghién cứu trong nước Vé cơ cấu kinh tế, tac giả Trương Thị Minh Sâm và cộng sự (2000) cho rang cơ cầu kinh tế là tổng thé bao gồm nhiều yếu tố có sự tác động qua lại lẫn nhau trong một không gian và thời gian nhất định. Nó được thê hiện ở mặt số lượng và chất lượng phù hợp với mục tiêu đã được xác định của nền kinh tế.
Trong đó, mặt sỐ lượng thé hiện quan hệ ty lệ hình thành của co cau; còn mặt chat lượng quy định vi tri, vai trò của các yếu tố. Cùng quan điểm trên, các học giả Đoàn Thi Thu Hà (2010), Ngô Thắng Lợi (2012) còn cho rằng cơ cau kinh tế không chi thể hiện ở quan hệ ty lệ về mặt số lượng mà quan trọng hơn là mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế, tức là cơ cấu kinh tế còn biểu hiện các quan hệ tỷ lệ về mặt chất lượng. 12 Cac tac giả Ngô Doãn Vinh (2006), Phan Công Nghĩa (2007) cũng đưa ra những van đề lý luận cơ bản về cơ cau kinh tế. Quan điểm của các tác giả khang định cơ cầu kinh tế bao gồm cấu trúc tổng thê các bộ phận của nền kinh tế với quy mô, vị trí, các quan hệ tỷ lệ tương đối ồn định hợp thành một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
Trong mỗi giai đoạn nhất định của nền kinh tế tất yếu có một cơ cấu kinh tế tương ứng và cơ cấu kinh tế phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của một quốc gia, một vùng lãnh thé trong một thời kỳ nhất định. Các tác giả cũng chỉ ra cơ sở của việc hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế là lý luận về phân công lao động xã hội, đồng thời cũng nêu những vấn đề lý luận, phương pháp luận nghiên cứu thống kê cơ cấu kinh tế chuyên dịch theo hướng CNH, HĐH. Các nghiên cứu của Ngô Thắng Lợi (2012), Phạm Ngọc Linh (2013) cho rằng xét trên khía cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì dạng cơ cấu ngành kinh tế được xem là quan trọng nhất vì nó phản ánh sự phát triển của KHCN, lực lượng sản xuất, phân công lao động, chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất. Theo các học giả, cơ cấu ngành kinh tế được thé hiện trên hai nội dung: số lượng các ngành kinh tế được hình thành và mối quan hệ tương hỗ giữa các ngành với nhau bao gồm mặt số lượng và chất lượng.
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tác giả Nguyễn Tran Qué và cộng sự (2004) cho rằng thực chất của chuyên dịch CCNKT là do sự tăng trưởng không đồng đều giữa các ngành. Ngành nào có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng chung thì sẽ tăng tỷ trọng. Ngành nào có tốc độ tăng trưởng chậm hơn tốc độ tăng trưởng chung thì sẽ giảm tỷ trọng. Còn nếu tất cả các ngành có cùng một tốc độ tăng trưởng thì tỷ trong của các ngành sẽ không đổi, nghĩa là không có sự chuyền dich cơ cấu ngành kinh tế.
Như vậy, theo quan điểm này thì chuyên dịch cơ cấu ngành kinh tế chỉ đơn thuần là sự thay đổi về tỷ trọng giữa các ngành kinh tế trong tổng thể theo thời gian. Cùng quan điểm này, tác giả Nguyễn Ngọc Toàn và cộng sự (2013) cũng cho rằng chuyền dịch cơ cau kinh tế là quá trình làm thay đổi tỷ trọng giữa các bộ phận, cũng như vị trí, vai trò và mối liên hệ hữu cơ giữa các bộ phận đó. Học giả Ngô Doãn Vinh (2006) cho rằng việc hình thành và phát triển CCKT không chỉ phụ thuộc vào những yếu tố nội tại của nền kinh tế mà còn phụ thuộc vào các yêu tô từ bên ngoai quôc gia, do đó, việc nghiên cứu CCKT của một quôc gia 13 nhất thiết phải nghiên cứu xu hướng biến động của nền kinh tế thế giới và những xu thé phát triển của các nền kinh tế hàng đầu. Theo Lê Xuân Bá (2012), việc tái co cầu kinh tế sẽ thành công, đạt được mục tiêu như dự kiến nếu thu hút được sự hưởng ứng và tham gia tích cực của người dân và các thành phần kinh tế.
Trọng tâm của tái cơ cầu các ngành kinh tế là đổi mới và chuyên đổi cơ cấu công nghiệp và dịch vụ, phát triển các sản phẩm có lợi thé cạnh tranh, sản phẩm có khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu thuộc các lĩnh vực công nghệ cao. Các học giả Ngô Thắng Lợi (2012), Tran Thi Thanh Hương (2016) đều quan niệm rang chuyển dich CCNKT là việc chuyên nền kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác với những đặc tính về cơ cấu kinh tế tốt hơn, đem lại hiệu quả cao hơn. Mục đích của chuyền dịch, theo các tác giả là làm cho nền kinh tế phát triển có chất lượng hơn, bền vững hơn. Cùng quan điểm trên, Trần Thị Thu Huyền (2021) trong luận án tiễn sĩ của mình cũng cho rằng chuyển dịch CCNKT là quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái nay sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển.
Bản chất của chuyên dịch CCNKT là quá trình cải tạo những ngành cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp dé xây dựng và phát triển các ngành mới, tiên tiễn, hoàn thiện và bổ sung ngành cũ nham biến đổi cơ câu ngành cũ thành cơ cấu ngành mới hiện đại và phù hợp hơn. Nhóm tác giả Nguyễn Thị Hiện, Nguyễn Thị Lệ Triéu, Nguyễn Thị Anh Thư (2021) đã có công trình nghiên cứu nhằm đánh giá xu hướng và mức độ chuyên dịch CCKT của Việt Nam kế từ khi tiến hành đổi mới (năm 1986) đến nay và kết hợp so sánh với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Kết quả cho thấy, CCKT nước ta CÓ Sự chuyền dịch theo hướng hiện đại, tỷ trọng GDP và lao động ở khu vực nông nghiệp giảm dần, còn khu vực phi nông nghiệp thì theo chiều ngược lại. Tuy nhiên, mức độ chuyền dịch diễn ra khá chậm, CCKT vẫn lạc hậu, ngay cả khi CCNKT được chú trọng ưu tiên đi đầu trong quá trình công nghiệp hóa cũng chưa bắt kịp với một số quốc gia cùng khu vực.