CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về tình hình sản xuất nông nghiệp tại Châu Thành - Kiên Giang Nông nghiệp (Nông – Lâm nghiệp – Thủy sản) là một trong những thế mạnh của huyện Châu Thành, với những đặc điểm đặc thù, được tạo lập ra bởi các yếu tố thời tiết, khí hậu. Những thế mạnh đó đã được chú trọng khai thác trong những năm gần đây, nhất là từ khi thành lập huyện đến nay. Trong cơ cấu đất đai, đất nông, nuôi trồng thủy sản và đất phi nông nghiệp là 28.544,19 ha, chiếm 100%; Trong đó đất Nông nghiệp có diện tích lớn nhất với 24.979,59 ha, chiếm 87% diện tích đất tự nhiên và 13% là đất phi nông nghiệp.
Số lượng người làm việc trong các ngành nông nghiệp và thủy sản của huyện Châu Thành cũng chiếm tỉ lệ cao; Trong số 50.870 người đang làm việc trên địa bàn huyện thì có tới 75,6% số lao động làm việc trong ngành nông nghiệp và thủy sản, giá trị sản xuất của nông nghiệp và thủy sản năm 2016 chiếm 43%. Thế mạnh kinh tế của huyện là nông nghiệp và thủy sản. Từ năm 2012 đến nay, kinh tế huyện Châu Thành có những đột phá đi lên, phát triển theo hướng toàn diện, nhất là chuyển dịch tích cực cơ cấu kinh tế, các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế đều đạt và vượt so với kế hoạch. Với những thế mạnh và đặc thù riêng, nông, lâm nghiệp và thủy sản của huyện Châu Thành có sự tăng trưởng khá cao so với nông nghiệp của cả nước cũng như nông nghiệp của các huyện khác trong địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Tính chung trong nhóm ngành nông nghiệp và thủy sản mức tăng giá trị sản xuất đã đạt tới 9.92%/năm thời kỳ 2012-2016; Trong đó, ngành nông nghiệp có mức tăng khá cao, bình quân thời kỳ 2012-2016 ngành nông nghiệp có mức tăng cao, bình quân thời kỳ 2012-2016 ngành nông nghiệp có mức tăng tới 3.4%/năm, trong khi đó lâm nghiệp có mức biến động tăng 4.53%/năm, thủy sản tăng 5. Sự tăng 4 trưởng cao của nhóm ngành công nghiệp đã góp phần quan trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của huyện.1- Giá trị sản xuất nông,lâm nghiệp, thủy sản (theo giá so sánh năm 2010) trên địa bàn Giá trị sản xuất Nông, Lâm, Thủy Sản Tốc độ (Tỷ đồng) Chỉ tiêu tăng BQ Năm Năm Năm Năm Năm (%) 2012 2013 2014 2015 2016 Tổng số 2.776,000 3,40 Lâm nghiệp 3,800 4,010 4,233 4,464 4,743 4,53 Thủy sản 808,100 885,760 955,117 1.066,000 5,70 Nguồn: Chi cục thống kê huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Trong cơ cấu ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng tăng giá trị sản xuất trong ngành thủy sản từ năm 2012 là 808,100 tỷ đồng đến năm 2016 đã tăng 1.066,000 tỷ đồng, cơ cấu này đã có sự chuyển biến đáng kể, cụ thể ngành thủy sản tốc độ tăng bình quân là 5. Tổng quan về thiết bị thu hoạch lúa tại huyện Châu Thành tỉnh Kiên Giang 1.
Máy gặt tuốt liên hợp kiểu Nhật Bản Loại máy này khá phổ biến ở một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc còn nước ta hiện nay loại máy này vẫn chưa được sử dụng nhiều. Chủ yếu vẫn đang được nghiên cứu tại các viện nghiên cứu và một số cơ quan để cải tiến phù hợp với điều kiện ở Việt Nam. Máy gặt tuốt liên hợp (hình 1.1) có thể gọi là tổ hợp của máy gặt xếp dãy và máy tuốt. Trống tuốt bao giờ cũng có khối lượng nhỏ hơn trống đập, do đó khối lượng của máy liên hợp được giảm đi.
Máy gặt tuốt liên hợp cắt và 5 gom lúa thành từng lớp đưa vào trống tuốt, hạt được đóng vào bao còn rơm được rải trên đồng. Máy gặt tuốt liên hợp không sử dụng guồng gạt mà sử dụng các tay vơ trên dải xích chạy song song. Các tay vơ giữ lúa cho vào dao cắt, chuyển lúa lên băng và dây xích kẹp chuyển lúa tới trống tuốt.1 - Máy gặt tuốt liên hợp Máy có bề rộng làm việc 650 mm với kiểu 2 thành tay vơ, máy có bề rộng làm việc 1.650mm với 3, 4 hoặc 5 hàng xích tay vơ. Hạt lúa được tách khỏi bông có thể được chứa trên thùng chứa hạt trên máy hoặc đóng vào bao tải.
Năng suất của các máy gặt tuốt liên hợp tuỳ thuộc vào bề rộng làm việc có năng suất từ (1.000) kg/h khi vận tốc gặt là 4,5 (km/h) với thảm lúa đứng. Ưu điểm chính của loại xích – tay vơ – mũi rẽ nâng lúa là không có động tác đập vào bông như ở guồng gạt. Máy gặt đập liên hợp Ở nước ta hiện nay chủ yếu sử dụng máy gặt đập liên hợp. Đây là loại máy kết hợp các công việc từ cắt, đập, làm sạch sơ bộ một trên cùng một máy nên có năng suất cao và tỷ lệ rơi vãi trên đồng ruộng là thấp và tiết kiệm rất nhiều công đoạn cho nông dân.
6 Xu hướng chung hiện nay là người ta dùng phương pháp thu hoạch một giai đoạn, vì việc liên hoàn hai bộ phận cơ bản là gặt và đập trên cùng một tổ hợp sẽ làm cho tổn hao về hạt do vận chuyển giảm xuống đáng kể. Hơn nữa thời gian thu hoạch được rút ngắn, giải phóng nhanh đồng ruộng. Máy gặt đập liên hợp trước kia có loại móc sau máy kéo, ngày nay hầu hết là máy tự hành. Một động cơ có công suất từ 10 ÷ 30 mã lực đủ để vận hành toàn bộ hoạt động của máy gặt đập liên hợp.
Máy gặt đập liên hợp gồm các chi tiết chính sau: +/ Guồng gạt, dao cắt, mũi rẽ, trục vít gom lúa. +/ Băng chuyền nghiêng đưa lúa đã gặt vào trống đập. +/ Bộ phận hứng hạt, sàng, quạt. +/ Cơ cấu di chuyển hạt, gié bị gãy, đổ hạt ra xe hoặc thùng chứa.
+/ Hệ thống truyền động tới cơ cấu làm việc, di động. +/ Hệ thống thuỷ lực nâng hạ máy hoặc bộ phận cắt. Hiện nay trên thị trường máy gặt ở nước ta có một số mẫu máy gặt đập liên hợp như: FOTON LOVOL DB200; FOTON LOVOL DC138; 4L – 0.5B; DC60; DC70; AW82V; YH850 (hình 1.2) … Nhìn chung những mẫu máy gặt đập liên hợp hiện nay phần lớn có xuất xứ từ Trung Quốc, Nhật Bản và một số máy được các công ty tư nhân cũng như viện nghiên cứu cải tiến từ những mẫu máy của Trung quốc. Giá bán của các mẫu máy này thường dao động trong khoảng từ 100 triệu đến 600 triệu, có máy có giá hơn 600 triệu.
Ưu điểm chung của các mẫu máy này là: Công suất máy lớn dẫn đến năng suất làm việc cao, có thể gặt ở chân ruộng lầy lội; Bề rộng làm việc lớn; 7 Đảm bảo độ hao hụt hạt thóc cho phép khi làm việc; động cơ mạnh mẽ, có thể làm việc trong nhiều giờ liên tục. Nhược điểm là trọng lượng và kích thước cồng kềnh nên khó làm việc ở những cánh đồng nhỏ; Sau khi thu hoạch xong để lại vết máy lớn gây khó khăn cho khâu làm đất; Hệ thống truyền động bằng xích nên cần có thiết bị chuyên dùng đi kèm để vận chuyển, gây tăng giá thành đầu tư máy. Bên cạnh đó giá thành của các mẫu máy này còn quá cao, máy chỉ có thể làm việc theo mùa vụ khi hết mùa gặt lại không sử dụng đến nên tính hiệu quả kinh tế không cao. Máy gặt đập liên hợp FOTON Máy gặt đập liên hợp 4L – LOVOL DB200 0.5B Máy gặt đập liên hợp KUBOTA Máy gặt đập liên hợp DC35 KUBOTA DC60 8 Máy gặt đập liên hợp Máy gặt đập liên hợp YANMAR AW82V YANMAR AW70V Hình 1.2 - Một số máy gặt đập liên hợp đang được sử dụng ở Việt Nam 9 1.
Máy gặt bó và gặt xếp dãy Các loại máy gặt bó và xếp dãy nói chung là không có guồng gạt. Điều này làm cho máy đỡ phức tạp giảm được một phần khối lượng. Bộ phận guồng gạt được thay thế bằng bộ phận tay vơ gắn trên hệ thống xích. Tay vơ có nhiệm vụ cùng với mũi rẽ nâng lúa, giữ lúa cho dao cắt sau đó tay vơ cùng xích chuyển lúa lên băng tải để đưa vào bộ phận bó hoặc xếp thành dãy thẳng hàng trên đồng.3 - Máy gặt xếp dãy Máy có năng suất 0,1 ÷ 0,12 ha/h có độ rụng hạt cao do quá trình vận chuyển lúa, xếp lúa hoặc bó lúa.
Tuy nhiên, máy có nhược điểm là năng suất thấp, máy dùng động cơ xăng nên chi phí giá thành cho 1 kg lúa thu hoạch khá cao. Ngoài ra máy chưa giải quyết được hoàn toàn khâu thu hoạch mà mới chỉ giải quyết được khâu cắt lúa, người nông dân vẫn phải tiếp tục gom lúa rồi thuê máy tuốt điều đó làm cho hiệu quả chung của công việc thu hoạch vẫn chưa được cao. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu Vùng nghiên cứu Hình 1.4 - Bản đồ hành chính huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường, 2016.1 Điều kiện tự nhiên a). Vị trí địa lý 11 Châu Thành là một huyện của tỉnh Kiên Giang (trước đó là tỉnh Rạch Giá), có diện tích 28.540 kilo mét vuông, dân số khoảng 130 nghìn người nằm về phía Đông thành phố Rạch Giá thuộc vùng Tây Sông Hậu có tọa độ địa lý 10507’ đến 105017’ kinh độ Đông và từ 9050’ đến 1005’ vĩ độ Bắc.
Phía Bắc giáp huyện Tân Hiệp và TP Rạch Giá; Phía Đông giáp huyện Giồng Riềng và Tân Hiệp; Phía Nam giáp huyện Gò Quao và An Biên; Phía Tây giáp huyện An Biên và TP Rạch Giá. Huyện có diện tích tự nhiên 28.544,19 ha, có 10 đơn vị hành chính, gồm 01 trung tâm là thị trấn Minh Lương và các xã: Bình An, Giục Tượng, Minh Hòa, Mong Thọ, Mong Thọ A, Mong Thọ B, Thạnh Lộc, Vĩnh Hòa Hiệp, Vĩnh Hoà Phú. Phía Tây giáp thành phố Rạch Giá, phía Bắc giáp huyện Tân Hiệp, phía Nam giáp các huyện An Biên và Giồng Riềng, phía Đông giáp huyện Gò Quao. Đây là một huyện có diện tích nhỏ nhưng lại là một trong những địa phương có đóng góp nhiều vào ngân sách tỉnh.
Nền kinh tế của huyện chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản.có nhiều kênh rạch thông ra sông Hậu. Vì vậy, Châu Thành có lợi thế về mở rộng giao lưu với các tỉnh trong vùng ĐBSCL. Trong khu vực nông nghiệp, có lợi thế tòan diện về nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi). Châu Thành là một trong những huyện sản xuất lúa trọng điểm thuộc vùng Tây sông Hậu (TSH) tỉnh Kiên Giang, có diện tích tự nhiên 28.544,19 ha; trong đó nông nghiệp 24.979,59 ha, đất trồng lúa 19.