CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Năng lực và vấn đề phát triển năng lực cho học sinh THPT 1.1 Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực được định nghĩa theo nhiều hướng khác nhau. - Theo quan điểm của các nhà tâm lý học: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. - Trong giáo dục: + Theo chương trình giáo dục phổ thông của Quebec – Canada thì: Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm giải quyết hiệu quả một nhiệm vụ cụ thể trong bối cảnh nhất định. + “Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn.”, “Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống: ví dụ như đọc một văn bản cụ thể.
Nắm vững và vận dụng được các phép tính cơ bản .2 Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh Để PTNL GQVĐ cho HS có thể sử dụng các biện pháp sau: - Biện pháp 1: Tạo tình huống có VĐ qua các ví dụ, bài toán thực tiễn (hoá học, liên môn, khoa học tự nhiên, khoa học kĩ thuật, đời sống thực tiễn,…) dẫn tới VĐ cần phát hiện. - Biện pháp 2: Tổ chức cho HS tập dượt liên tưởng, huy động kiến thức cần thiết để khai thác tình huống, tiếp cận, nhận biết và giới hạn phạm vi trong quá trình tìm cách GQVĐ. - Biện pháp 3: Coi trọng và sử dụng một cách hợp lí, có mục đích các phương tiện trực quan (đồ dùng dạy học, hình vẽ, tranh ảnh, các bài toán có nội dung thực tiễn) giúp HS thuận lợi trong việc phát hiện, nắm bắt và GQVĐ. 4 - Biện pháp 4: Tập dượt cho HS tổ chức tri thức (bổ sung, nhóm lại, kết hợp) thông qua hoạt động so sánh, tương tự, đặc biệt hoá, khái quát hoá, trừu tượng hoá, để dự đoán bản chất của VĐ, GQVĐ.
- Biện pháp 5: Tổ chức cho HS phân tích, lựa chọn, tách biệt ra nhóm dấu hiệu đặc trưng cho VĐ, xác định được mối quan hệ bản chất và những biểu hiện bên ngoài của VĐ. - Biện pháp 6: Tập luyện cho HS sử dụng ngôn ngữ, kí hiệu HH, để diễn đạt các nội dung HH; diễn đạt lại VĐ theo những cách khác nhưng vẫn đảm bảo đúng nghĩa, từ đó biết cách diễn đạt theo hướng có lợi nhất tạo thuận lợi cho việc GQVĐ. - Biện pháp 7: Xây dựng các tình huống thực tiễn (trực tiếp hoặc gián tiếp) thông qua hệ thống các câu hỏi.2 Bài tập hóa học 1.1 Khái niệm bài tập hóa học Bài tập hoá học (BTHH) theo nghĩa truyền thống là những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi thuộc các VĐ Hoá học mà HS phải sử dụng kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành. BTHH là những VĐ học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm hóa học trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và PP hóa học.
Dạy học là dạy học theo từng loại đối tượng, phù hợp với tâm - sinh lí, khả năng, nhu cầu và hứng thú của người học nhằm phát triển tối đa tiềm năng riêng vốn có của mỗi người học. Cho nên BTHH được hiểu là những câu hỏi và bài toán phù hợp với từng đối tượng HS khác nhau đồng thời giúp HS rèn luyện, phát huy được hết khả năng hiện có của bản thân thông qua giải BT. Có thể phân hóa bằng cách sử dụng những câu hỏi và BT phân bậc với mức độ khó, dễ khác nhau hoặc phân hóa về số lượng. Để kiến tạo một kiến thức, rèn luyện một kĩ năng nào đó, một số HS này có thể cần nhiều câu hỏi và BT cùng loại hơn một số HS khác.
Do vậy, cần ra đủ liều lượng câu hỏi và BT cho từng loại đối tượng.2 Phân loại bài tập hóa học Ngoài cách phân loại như với BTHH truyền thống (BT lý thuyết định tính, BT định lượng, BT thực nghiệm định tính, BT thực nghiệm định lượng, BT tổng hợp,…) thì có thể phân loại BTHH phân hoá theo 4 mức độ như sau: biết, hiểu, vận dụng, vận dụng cao. Bảng 1: Mô tả về các cấp độ tư duy Cấp độ tư duy Mô tả Biết * Nhận biết có thể được hiểu là học sinh nêu hoặc nhận ra các khái niệm, nội dung,vấn đề đã học khi được yêu cầu. * Các hoạt động tương ứng với cấp độ nhận biết là: nhận dạng, đối chiếu, chỉ ra… * Các động từ tương ứng với cấp độ nhận biết có thể là: xác định, liệt kê, đối chiếu hoặc gọi tên, giới thiệu, chỉ ra,… * Ví dụ: − Từ công thức cấu tạo chất hữu cơ, HS có thể chỉ ra công thức nào biểu diễn hợp chất este; Hiểu * Học sinh hiểu các khái niệm cơ bản, có khả năng diễn đạt được kiến thức đã học theo ý hiểu của mình và có thể sử dụng khi câu hỏi được đặt ra tương tự hoặc gần với các ví dụ học sinh đã được học trên lớp. * Các hoạt động tương ứng với cấp độ thông hiểu là: diễn giải, kể lại, viết lại, lấy được ví dụ theo cách hiểu của mình… * Các động từ tương ứng với cấp độ thông hiểu có thể là: tóm tắt, giải thích, mô tả, so sánh, phân biệt, trình bày lại, viết lại, minh họa, hình dung, chứng tỏ, chuyển đổi… * Ví dụ: − SGK nêu quy tắc gọi tên amin và ví dụ minh hoạ, HS có thể gọi tên được một vài amin không có trong SGK; − SGK có một số PTHH, HS viết được một số PTHH tương tự không có trong SGK.
6 Vận dụng * Học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần và có thể sử dụng, xử lý các khái niệm của chủ đề trong các tình huống tương tự nhưng không hoàn toàn giống như tình huống đã gặp trên lớp. HS có khả năng sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học trong những tình huống cụ thể, tình huống tương tự nhưng không hoàn toàn giống như tình huống đã học ở trên lớp. * Các hoạt động tương ứng với vận dụng là: xây dựng mô hình, phỏng vấn, trình bày, tiến hành thí nghiệm, xây dựng các phân loại, áp dụng quy tắc (định lí, định luật, …), … * Các động từ tương ứng với vận dụng có thể là: thực hiện, giải quyết, minh họa, tính toán, diễn dịch, áp dụng, phân loại, sửa đổi, đưa vào thực tế, chứng minh, ước tính, vận hành… * Ví dụ: − HS có thể sử dụng các tính chất hoá học để phân biệt được ancol, anđehit, axit.bằng phản ứng hoá học. Vận dụng cao * HS có khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản để giải quyết một vấn đề mới hoặc không quen thuộc chưa từng được học hoặc trải nghiệm trước đây, nhưng có thể giải quyết bằng các kỹ năng và kiến thức đã được dạy ở mức độ tương đương.
Các vấn đề này tương tự như các tình huống thực tế học sinh sẽ gặp ngoài môi trường lớp học.3 Định hướng tư duy học sinh trong giải bài tập Hóa học Tuỳ vào mức độ nhận thức của HS, điều kiện tình hình lớp học và tuỳ thuộc vào các dạng BTHH phân hoá khác nhau mà người GV linh động hướng dẫn HS tư duy, vận dụng kiến thức, kĩ năng để GQVĐ, BT đưa ra cho phù hợp. Mặt khác, GV phải hướng dẫn, trợ giúp làm sao để HS nhận thức được VĐ cần 7 giải quyết, tự HS tư duy được PP GQVĐ để HS tự lực hoàn thành BT trong các lần sau. Các thao tác tư duy cần dẫn dắt cho HS: - Bước 1: Đọc kĩ đề bài, phân tích để nhận ra VĐ cần giải quyết. - Bước 2: Tìm hiểu, nhận thức được các dữ kiện đề bài đưa ra và kết nối liên hệ các kiến thức liên quan đã học có thể dùng để GQVĐ.
Trong quá trình kết nối các dữ kiện và kiến thức, các rào cản/vấn đề nhỏ hay các ẩn số sẽ dần được hoá giải và cuối cùng HS sẽ đi đến được câu trả lời cho BT. - Bước 3: Hệ thống lại các bước giải quyết, đi đến kết luận. - Bước 4: Rút ra kinh nghiệm cho bản thân để giải quyết các VĐ tương tự sau này.3 Thực trạng dạy học và sử dụng bài tập trong dạy học hóa học ở trường THPT Lê Văn Hưu.1 Mục đích khảo sát - Nắm được thực trạng sử dụng các PPDH tích cực, cụ thể là PPDH GQVĐ ở trường phổ thông. - Nắm được thực trạng sử dụng BTHH phân hoá trong quá trình dạy học Hoá học để PTNL GQVĐ cho HS.
- Nắm được trình độ các NL, nhất là NL GQVĐ của HS. – Qua kết quả khảo sát, củng cố sự cần thiết và điều chỉnh hướng đi đúng đắn của đề tài.2 Đối tượng và phương pháp khảo sát - Khảo sát dưới hình thức trao đổi thăm dò ý kiến, phát và thu hoạch phiếu tham khảo ý kiến các GV giảng dạy môn Hóa học và HS tại trường THPT Lê Văn Hưu trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa.3 Kết quả khảo sát 1.1 Về phía giáo viên Bảng1.1: Mức độ sử dụng các PPDH Mức độ Không Thường xuyên Đôi khi PPDH sử dụng 5 1 0 Đàm thoại 4 2 0 Thuyết trình Dạy học hợp tác 0 3 3 trong nhóm nhỏ 5 1 0 Nêu và GQVĐ Phương pháp thực 3 3 0 hành Phương pháp trực 4 2 0 quan Bảng 1.2: Mức độ đạt được các năng lực của HS ở trường THPT Mức độ Năng lực Tốt Khá Trung bình Yếu Tự học 1 3 1 1 Giải quyết 2 2 1 1 vấn đề Tư duy logic 1 3 1 1 Sử dụng ngôn 3 2 1 0 ngữ hoá học Hợp tác 2 3 1 0 Vận dụng 0 3 3 0 kiến thức hoá 9 học vào thực tiễn cuộc sống Thực hành 2 3 1 0 hoá học Tính toán 1 3 1 1 Sáng tạo 0 3 2 1 Bảng 1.3: Tầm quan trọng của việc dạy học PTNL GQVĐ cho HS Rất quan Không quan Mức độ Quan trọng Bình thường trọng trọng Ý kiến 4 2 0 0 Bảng 1.