Chương 1 trình bày bối cảnh nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, những mục tiêu nghiên cứu cụ thể và giới thiệu cấu trúc của đề tài. Chương 2 trình bày những khái niệm và các lý thuyết, mô hình phân tích liên quan, đồng thời tóm tắt một số kết quả thực nghiệm từ những nghiên cứu trước ở Việt Nam và trên thế giới để nhận diện các yếu tố có khả năng tác động đến quyết định thành lập DN. Đây là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu trong chương 3. Chương 3 mô tả chi tiết thiết kế nghiên cứu, bao gồm khung phân tích, tập dữ liệu, phương pháp thu thập, khảo sát và ghi nhận kết quả.
Chương 4 mô tả các kết quả khảo sát và thực hiện phân tích, bàn luận về sự tác động của các yếu tố thuộc khung phân tích đến việc ra quyết định thành lập DN của các HKD. Chương 5 tổng hợp kết quả phân tích ở chương 4 để đưa ra kết luận về những vấn đề chính, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Và cuối cùng đưa ra những đề xuất và khuyến nghị về mặt chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các HKD và DN ngành dừa phát triển, nhằm góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh. Tóm lại, trong chương này đã nêu lên bối cảnh, sự cần thiết và xác định đề tài nghiên cứu của luận văn là “Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thành lập DN của HKD ngành công nghiệp chế biến dừa tỉnh Bến Tre”.
Chương này cũng đã xác định mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, đồng thời trình bày kết cấu của luận văn gồm 5 chương. Trang 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này trình bày những khái niệm, phân tích đánh giá các thủ tục hiện hành và tình hình đăng ký thành lập của DN, HKD. Đồng thời, trình bày các lý thuyết, mô hình phân tích liên quan và tóm tắt một số kết quả thực nghiệm từ những nghiên cứu trước ở Việt Nam và trên thế giới để nhận diện các nhóm nhân tố có khả năng tác động đến quyết định thành lập DN. Khái niệm và phân loại DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Trong đó, kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi5. Như vậy, DN là tổ chức kinh tế vị lợi. Dựa trên bản chất kinh tế của chủ sở hữu, có 3 loại hình DN là DNTN, DN hợp danh và DN trách nhiệm hữu hạn. Theo chế độ trách nhiệm, DN có 2 loại hình là DN có chế độ trách nhiệm vô hạn và DN có chế độ trách nhiệm hữu hạn.
Căn cứ theo hình thức pháp lý, DN được chia thành 5 loại, bao gồm: DNTN, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần và công ty hợp danh. Doanh nghiệp tư nhân DNTN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN, có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của DN. Chủ DNTN là đại diện theo pháp luật của DN, DNTN không có tư cách pháp nhân như các loại hình DN khác, chủ DN có thể tự mình hoặc thuê người khác điều hành, quản lý mọi hoạt động của DN. DNTN không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một 5 Theo Luật DN số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005. Đặc biệt là chủ DNTN có quyền bán hoặc cho thuê DN cho người khác mà các loại hình DN khác không có. Ưu điểm của DNTN hoàn toàn có thể chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của đơn vị do chỉ có một chủ sở hữu duy nhất. Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ DNTN tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho đơn vị ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình công ty khác.
Nhược điểm của loại hình này là do DNTN không có tư cách pháp nhân, chủ DNTN phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của DN và của bản thân, không giống như các loại hình DN có tư cách pháp nhân khác là chỉ chịu trách nhiệm tài sản trên phần vốn đăng ký. Ngoài ra, DNTN còn gặp khó khăn trong việc huy động vốn do không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Công ty TNHH một thành viên Công ty TNHH một thành viên do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty, có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty, có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác.
Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân, nhưng không được quyền phát hành cổ phiếu. Tùy thuộc vào ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức của công ty bao gồm hội đồng quản trị và giám đốc hoặc chủ tịch công ty và giám đốc. Ưu điểm của công ty TNHH một thành viên là chủ sở hữu công ty ít gặp rủi ro về trách nhiệm tài sản, do có tư cách pháp nhân nên công ty chỉ có trách nhiệm tài sản trong phạm vi số vốn đã đăng ký. Loại hình này có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ hơn các loại hình công ty khác nên dễ dàng ra quyết định trong quá trình hoạt động.
Nhược điểm của công ty TNHH một thành viên là không được giảm vốn điều lệ. Việc huy động vốn của công ty TNHH bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu. Trang 7 Công ty TNHH hai thành viên trở lên Công ty TNHH hai thành viên trở lên có một số điểm khác so với công ty TNHH một thành viên là được góp vốn thành lập từ hai đến không quá năm mươi thành viên, các thành viên có thể là tổ chức hay cá nhân. Phần vốn góp của các thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.
Ưu điểm của công ty TNHH hai thành viên trở lên là chủ sở hữu công ty ít gặp rủi ro về trách nhiệm tài sản, do có tư cách pháp nhân nên công ty chỉ có trách nhiệm tài sản trong phạm vi số vốn đã đăng ký. Số lượng thành viên không nhiều nên việc quản lý, điều hành không quá phức tạp. Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty. Nhược điểm của loại hình này là uy tín của công ty trước đối tác có phần hạn chế hơn so với công ty cổ phần và công ty hợp danh, do chế độ trách nhiệm hữu hạn.
Công ty TNHH chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn DNTN hay công ty hợp danh. Việc huy động vốn của công ty TNHH bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu. Công ty cổ phần Công ty cổ phần là DN mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông có thể là tổ chức hay cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa.
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN, có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân, có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn. Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hay Tổng giám đốc, đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát. Ưu điểm của công ty cổ phần là nhờ chế độ trách nhiệm trách nhiệm hữu hạn nên các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp.
Cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều Trang 8 kiện cho nhiều người cùng góp vốn vào công ty. Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần rất cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần. Việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng. Nhược điểm của công ty cổ phần là việc quản lý và điều hành rất phức tạp do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ đông đối kháng nhau về lợi ích.
Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán. Công ty Hợp Danh Công ty hợp danh là DN mà phải có ít nhất hai thành viên (sau đây gọi là thành viên hợp danh) là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề của công ty.
Ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty, được chia lợi nhuận theo tỷ lệ tại quy định điều lệ công ty. Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân, nhưng không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người.
Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh.