đặt vấn đề của ông) là "thu hút sự quan tâm tới một trong những vấn đề (theo quan điểm của chúng tôi) rất quan trọng cho sự nghiệp củng cố hoà bình" đó là về những cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia và các biện pháp giải quyết của họ. Bức thư này là một sự khởi đầu mang tính hoà bình rất đặc trưng của Xô viết tập trung vào việc miêu tả LiênXô là một chiến sĩ đấu tranh cho hoà bình một cách bền bỉ. Đồng thời bức thư cũng thể hiện quan điểm của LiênXô về tình hình quốc tế lúc đó. Bức thư cũng bao gồm những đoạn nói về Việt Nam, mặc dầu điều này không rõ ràng là vấn đề về tranh chấp lãnh thổ, Khrusev viết: "Xéttheo một vài khía cạnh thì một vấn đề nữa liên quan đến lãnh thổ.
Đây là vấn đề sự thống nhất đất nước ở Đức, TriềuTiên và Việt Nam. Sau chiến tranh (Thế giới thứ II), mỗi nước này đã bị chia làm hai nước với những hệ thống xã hội khác nhau. Mong muốn thống nhất đất nước của nhân dân ở các nước đó đáng thông cảm và tôn trọng. Tất nhiên, nguyện vọng thống nhất đất nước phải được giải quyết bởi chính người dân trong các nước đó và bằng chính quyền của họ, chứ không phải bằng sự can thiệp quân sự từ bên ngoài hoặc xâm lược, ví dụ như đã xảy ra ở Nam Triều Tiên và Nam Việt Nam"… Mặc dù Việt Nam được đề cập đến ở đoạn cuối trong phần bức thư của Khrusev, nhưng tình hình ở Đông Dương vẫn là mối lo ngại chủ yếu đói với Moskva và được coi như là một sự khác nhau cơ bản so với những diễn biến ở Đức và TriềuTiên.
Trong bức thư của mình ông đã khẳng định quan điểm sau: "Để giải quyết được vấn đề này thì việc tránh sử dụng vũ lực, cho phép người dân ở những nước đó giải quyết những yêu cầu về thống nhất Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net Liên bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam Ilya V. Gaiduk đất nước một cách hoà bình là cần thiết. Tất cả các quốc gia khác phải khuyến khích cách làm này". Rõ ràng là tình hình bất ổn ở Việt Nam đã làm các nhà chính trị Xô viết lưu tâm khi họ đề cập đến Việt Nam ở hai đoạn trên trong bức thư của Khrusev.
Nhưng liệu lời phát biểu này có phải là sự quan tâm của một nước xã hội chủ nghĩa này đối với nước xã hội chủ nghĩa khác? Xéttheo một vài khía cạnh nào thì điều này là đúng bởi vì nghi lễ xã giao đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị của Moskva. Nhưng các nhà lãnh đạo Xô viết dường như cũng đã lưu tâm đến các sự kiện ở Việt Nam từ năm 1964. Không có điều gì bí mật đối với Moskva rằng kể từ năm 1959 các nhà cộng sản Việt Nam đã tập trung vào việc thống nhất đất nước bằng quân sự. Những tài liệu chính thức của Đại hội Đảng lao động lần thứ 3 (Đảng của những người công nhân ở Việt Nam, được tổ chức vào tháng 9 năm 1960) đã được in ấn tại Liên Xô vào năm 1961, đã chứng tỏ sự xác định của Đảng đối với việc tăng gấp đôi nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, đó là sự công nhận Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Việt Nam và Công cuộc giải phóng miền Nam khỏi "sự thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai" và Công cuộc thống nhất đất nước.
Theo nghị quyết của Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam năm 1959 và cuộc họp đặc biệt của Bộ Chính trị diễn ra vài tháng sau đó, thì nhiệm vụ này bao gồm cả việc định hướng cho các đảng viên Cộng sản Việt Nam về một cuộc đấu tranh quân sự để thống nhất đất nước. Hà Nội tin rằng sẽ có "một tình thế cách mạng" ở Nam Việt Nam. Do vậy mà người ta quyết định tăng cường những nỗ lực quân sự ở miền Nam kết hợp với "một cuộc phản công chống lại kẻ thù trên mặt trận chính trị". Ủy ban Trung ương Đảng BắcViệt Nam đã đưa ra một kế hoạch hành động cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ này.
Tất cả những biện pháp này cũng với sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (viết tắt là NLFSV, hoặc Việt Cộng, một tổ chức mang tư tưởng và được sự trợ giúp của Bắc Việt Nam) tháng 12 năm 1960, đã cho những người Xô viết thấy rằng có một số phát triển mới đang được hình thành trong khu vực. Đầu tiên, những sự kiện ở Đông Nam Á dường như rất có ý nghĩa đối với Moskva. Khu vực này chưa bao giờ là mối quan tâm chính của giới lãnh đạo Xô viết bởi sự xa xôi và yếu kém của phong trào cách mạng trong khu vực. Sự trợ giúp của Liên Xô cho Việt Minh đối với cuộc chiến Đông Dương đầu tiên và đối với Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà sau năm 1954 là một ngoại lệ.
Nhưng trong cả hai trường hợp này, viện trợ của LiênXô vẫn ít hơn so với TrungQuốc, là nước mà các lãnh đạo Việt Nam có những quan hệ chặt chẽ hơn. Điều này cũng đúng khi xem xét đến sự hợp tác quân sự giữa Liên Xô và BắcViệtNam. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của người Việt Nam, Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã viện trợ cho Việt Nam vô số vũ khí đạn dược. Sau năm 1954, Liên Xô tham gia vào việc tổ chức lại các lực lượng vũ trang của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và đã gửi tới Việt Nam các cố vấn quân sự và vũ khí, một số đã được chuyển cho Việt Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net Liên bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam Ilya V.
Nhưng sự giúp đỡ này là không đáng kể. Vì vậy, trước năm 1964, LiênXô chủ yếu vẫn là một quan sát viên trước những diễn biến ở Việt Nam. Với vai trò này đã phục vụ cho chiến lược cùng tồn tại hoà bình của Khrusev với phương Tây và tránh những cuộc xung đột giống như cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba năm 1962. Với vị thế này có thể thực hiện được trong bối cảnh ở Đông Dương vẫn tồn tại một cuộc đấu tranh giữa các phe nhóm khác nhau của xã hội Việt Nam.
Thậm chí việc các cố vấn quân sự Mỹ được phái tới miền Nam Việt Nam cũng không thể hiện mối quan ngại nhiều đối với Moskva bằng sự lớn mạnh về ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Liên Xô có thể tiếp tục đưa ra những bài phát biểu và những tuyên bố kêu gọi một giải pháp hoà bình đối với vấn đề thống nhất đất nước, Liên Xô có thể đảm bảo với Việt Nam dân chủ cộng hoà về sự ủng hộ của họ trong cuộc kháng chiến của những người yêu nước ở miền Nam Việt Nam, Liên Xô có thể cung cấp cho họ (thông qua Hà Nội), viện trợ hứa hẹn dưới dạng vũ khí của Đức, cung cấp dược phẩm y tế và như vậy có thể xây dựng những mối quan hệ ổn định với phương Tây. Thế nhưng quyết định của Trung ương Đảng Lao động Việt nam vào năm 1959 và 1960 đã thách thức những chiến thuật này của Kreml. Bằng việc thay đổi những quan điểm của Liên Xô vào đầu năm 1964 cũng nhanh chóng làm sâu sắc mối bất hoà giữa Liên Xô và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
Sự xung đột giữa hai Đảng cộng sản lúc đó đã phát triển tới một sự kình địch công khai và những giai đoạn ngừng xung đột ngày càng trở nên hiếm hoi. Sự bất hoà Trung-Xô đã tác động mạnh mẽ đến những cân nhắc của Liên Xô đối với khu vực Đông Nam Á. Ảnh hưởng của TrungQuốc vào khu vực này luôn luôn mạnh mẽ, không chỉ bởi lý do địa lý duy nhất. Vào đầu những năm 60, vị trí của Trung Quốc trong khu vực, đặc biệt đối với Việt Nam, thậm chí còn phát triển mạnh mẽ hơn.
Các nhà cộng sản TrungQuốc và Việt Nam phát hiện ra rằng họ có nhiều điểm chung trên con đường đi tới phong trào cộng sản thế giới, về vai trò của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và về việc cùng tồn tại hoà bình với các nước tư bản chủ nghĩa. Họ có chung một tình cảm rất sâu nặng về chủ nghĩa dân tộc mà điều đó đã thống nhất quan điểm của họ về thái độ đối với các "đồng chí" LiênXô. Do có những triển vọng về một nước Việt Nam thống nhất, nên Hà Nội và BắcKinh có một sự nhất trí rằng đấu tranh chính trị, quân sự là những biện pháp chính để đạt được mục đích này. Những bất đồng nhỏ về những vấn đề như thế này là: LiệuBắcViệtNam có nên gửi lực lượng quân sự để giúp đỡ lực lượng Giải phóng dân tộc miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và "bè lũ tay sai" hay không? Liệu Việt Cộng có nên trông cậy vào lực lượng quân sự riêng của mình hay không? Đã ít được để ý đến.
Sự phát triển ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Nam Á xảy ra đồng thời với sự giảm đi một cách tương đối lợi ích của LiênXô trong khu vực. Khrusev dường như đã được thuyết phục rằng cách thức Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net Liên bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam Ilya V. Gaiduk tối ưu để giải quyết với những hoàn cảnh trên là để cho chúng tự phát triển với sự dính líu ít nhất của LiênXô, giới hạn chủ yếu ở sự ủng hộ về tinh thần. Quan điểm này vẫn giữ nguyên, không thay đổi cho đến khi có chuyến viếng thăm của đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam tới Moskva vào tháng 1, 2 năm 1964.
Đoàn đại biểu Việt Nam tới Moskva vào ngày 31-1-1964 do Lê Duẩn dẫn đầu, cùng với những đại diện lỗi lạc của giới lãnh đạo Hà Nội như Lê Đức Thọ và Hoàng Văn Hoan (cả hai là Ủy viên Bộ Chính trị và là Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam). Báo Pravda đăng một bài ngắn gọn về chuyến thăm của những người Việt Nam này mà không có một lời tiết lộ nào về mục đích của chuyến đi. Độc giả đã có thể cho là những con người Việt Nam này đến chủ yếu là để thăm quan Moskva-Lăng Lê-nin, Cung điện Thanh niên, Nhà hát lớn.