Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu của tác giả Âu Thị Hồng Thắm với đề tài "Tỉnh Bắc Kạn trong căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1954" thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại (mã số: 62.22.54.05), được hoàn thành tại Viện Sử học thuộc Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam năm 2013 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Phương Chi.
+-------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN CHUNG VỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ |
+----------------------+--------------------------------------------------------+
| Tác giả | Âu Thị Hồng Thắm |
| Người hướng dẫn | TS. Nguyễn Thị Phương Chi |
| Cơ sở đào tạo | Học viện Khoa học Xã hội - Viện Sử học |
| Chuyên ngành | Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại |
| Năm bảo vệ | 2013 |
| Phương pháp chủ đạo | Phương pháp lịch sử, phương pháp logic (Định tính) |
+----------------------+--------------------------------------------------------+
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tiến trình lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, vùng đất Việt Bắc luôn giữ vị trí chiến lược trọng yếu. Trong giai đoạn vận động giải phóng dân tộc tiến tới Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Việt Bắc đã trở thành căn cứ địa cách mạng của cả nước. Nằm ở trung tâm của căn cứ địa Việt Bắc, tỉnh Bắc Kạn giữ vai trò đầu mối giao thông liên lạc quan trọng nối liền các căn cứ Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang và Thái Nguyên, đồng thời là nơi hội tụ của các đội xung phong Nam tiến, Tây tiến và Bắc tiến.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Bắc Kạn là một trong những trung tâm trọng yếu được Trung ương Đảng và Chính phủ chọn xây dựng An toàn khu (ATK), tiêu biểu là huyện Chợ Đồn. Đồng thời, Bắc Kạn là tỉnh đầu tiên của cả nước được giải phóng (ngày 09 tháng 8 năm 1949), trở thành địa bàn thực hiện chế độ dân chủ nhân dân sớm trên nhiều lĩnh vực. Mặc dù có vị thế đặc biệt, các công trình khoa học trước đây chủ yếu nghiên cứu căn cứ địa Việt Bắc ở quy mô toàn vùng hoặc nghiên cứu lịch sử kháng chiến tỉnh Bắc Kạn một cách cục bộ, chưa đặt Bắc Kạn trong mối quan hệ tác động qua lại có tính hệ thống với toàn bộ căn cứ địa Việt Bắc suốt tiến trình 1942 - 1954. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là làm rõ quá trình hình thành, phát triển của các cơ sở cách mạng, căn cứ kháng chiến và xác định vị trí, vai trò, những đóng góp cụ thể của tỉnh Bắc Kạn trong căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1954.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ quá trình hình thành và phát triển của các cơ sở cách mạng nói riêng, phong trào quần chúng nói chung ở Bắc Kạn trong căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1945.
- Làm rõ sự ra đời, phát triển của căn cứ kháng chiến và phong trào đấu tranh ở Bắc Kạn trong căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1946 đến năm 1954.
- Làm rõ vị trí, vai trò và đóng góp của Bắc Kạn trong căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1954.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tỉnh Bắc Kạn, trong đó tập trung vào quá trình xây dựng, củng cố và hoạt động của các cơ sở cách mạng trên các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội và xây dựng lực lượng vũ trang trong mối liên hệ hữu cơ với căn cứ địa Việt Bắc.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Bắc Kạn; đồng thời mở rộng nghiên cứu không gian liên kết trực tiếp với các tỉnh lân cận trong khu căn cứ địa Việt Bắc gồm Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang và Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1942 (thời điểm hình thành cơ sở cách mạng đầu tiên tại Bắc Kạn) đến năm 1954 (thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, kết thúc sứ mệnh lịch sử của căn cứ địa Việt Bắc).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan, tác giả hệ thống hóa các tài liệu đã công bố thành ba nhóm công trình chính:
+-------------------------------------------------------------------------------+
| PHÂN LOẠI CÁC NHÓM CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU |
+--------------------------+----------------------------------------------------+
| Nhóm công trình | Các tác giả, tác phẩm tiêu biểu |
+--------------------------+----------------------------------------------------+
| 1. Chỉ đạo, đường lối | - "Bàn về chiến tranh nhân dân" (1966) |
| và lý luận của Đảng, | - "Từ nhân dân mà ra" (1969), "Những chặng đường |
| Chủ tịch Hồ Chí Minh | lịch sử" (1977) - Võ Nguyên Giáp |
| | - "Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam" |
| | (1976), "Tuyển tập (1937-1954)" (1987) - Trường |
| | Chinh |
| | - "Những sự kiện lịch sử Đảng (1930-1945)" (1976) |
+--------------------------+----------------------------------------------------+
| 2. Nghiên cứu chung về | - "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Thái (1930-1954)" |
| Việt Bắc và kháng | (1980) |
| chiến chống Pháp | - "Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945" (1985) |
| | - "Tổng kết chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chiến lược |
| | quân sự của Liên khu Việt Bắc..." (3 tập, |
| | 1990-1991) - Bộ Tư lệnh Quân khu I |
| | - "Việt Bắc 30 năm chiến tranh cách mạng |
| | (1945-1975)" Tập 1 (1990) |
| | - "Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp |
| | 1945-1954" (7 tập) - Viện Lịch sử Quân sự |
| | - Luận văn của Nguyễn Thị Nguyền (2001) |
| | - "Từ ATK Thái Nguyên đến chiến thắng lịch sử Điện |
| | Biên Phủ" (2004), Địa chí Thái Nguyên... |
+--------------------------+----------------------------------------------------+
| 3. Nghiên cứu trực tiếp | - "Căn cứ địa Việt Bắc (1940-1945)" (1995) - |
| về Bắc Kạn và ATK | Hoàng Ngọc La |
| | - "Lịch sử đấu tranh cách mạng Ngân Sơn |
| | (1939-1954)" (1990) |
| | - "Du kích chiến tranh Bắc Kạn" - Tổng cục |
| | Chính trị |
| | - "Con đường Nam tiến" (1995) - Nông Văn Quang |
| | - "Trung đoàn 72 Bắc Kạn" (1997) - Bộ Tư lệnh QK I |
| | - "Lực lượng vũ trang tỉnh Bắc Kạn (1947-1999)" |
| | (1999), "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn" T.1 (2000)|
| | - Luận văn của Đinh Thị Hồng Thu (2000), Lương |
| | Thị Hằng (2009) |
| | - "Bắc Kạn - Lịch sử kháng chiến chống thực dân |
| | Pháp (1945-1954)" (2001) |
| | - Đề tài B91-26-09 của Nguyễn Xuân Minh, chuyên đề |
| | của Trần Bá Đệ (2007) |
| | - Lịch sử Đảng bộ các huyện: Chợ Đồn, Bạch Thông, |
| | Ba Bể, Na Rì, thị xã Bắc Kạn |
+--------------------------+----------------------------------------------------+
Đánh giá khoảng trống học thuật
Qua khảo cứu hệ thống tài liệu hiện có, tác giả rút ra các nhận xét sau:
- Các công trình toàn quốc hoặc toàn khu Việt Bắc mới chỉ đề cập đến Bắc Kạn ở mức độ khái quát qua các sự kiện, chiến dịch tiêu biểu mà chưa phân tích sâu vai trò của địa bàn này trong tổng thể căn cứ địa.
- Các công trình lịch sử Đảng bộ và lịch sử quân sự địa phương tại Bắc Kạn phản ánh diễn biến đấu tranh giành chính quyền và kháng chiến nhưng giới hạn trong phạm vi hành chính của tỉnh hoặc từng huyện, chưa làm rõ mối quan hệ tác động qua lại hai chiều giữa Bắc Kạn với các tỉnh lân cận trong hệ thống căn cứ địa Việt Bắc.
- Một số công trình chuyên khảo chỉ dừng lại ở mốc Cách mạng tháng Tám năm 1945 (như công trình của TS. Hoàng Ngọc La) hoặc chỉ nghiên cứu thuần túy về quân sự, lực lượng vũ trang (công trình của Đinh Thị Hồng Thu, Lương Thị Hằng).
- Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về vị trí, vai trò, sự phát triển của cơ sở cách mạng và căn cứ kháng chiến tỉnh Bắc Kạn trong căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1954 là một đề tài chưa có công trình nào thực hiện độc lập trước đó.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận
Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh nhân dân, cùng hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng cơ sở quần chúng, xây dựng căn cứ địa cách mạng và hậu phương chiến tranh. Luận án tiếp cận vấn đề theo quan điểm lịch sử cụ thể, đặt lịch sử địa phương Bắc Kạn trong tiến trình chung của cách mạng giải phóng dân tộc và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân tộc.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính của khoa học lịch sử, sử dụng kết hợp các phương pháp chuyên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện và mô tả khách quan các sự kiện, tiến trình hình thành, phát triển của các cơ sở cách mạng và phong trào đấu tranh tại Bắc Kạn theo đúng trình tự thời gian biên niên từ năm 1942 đến năm 1954.
- Phương pháp logic: Kết hợp với phương pháp lịch sử nhằm phân tích bản chất, đặc trưng, khái quát các quy luật và đánh giá vị trí, vai trò của Bắc Kạn trong hệ thống căn cứ địa.
- Phương pháp khảo sát thực địa (điền dã): Thực hiện khảo sát trực tiếp các địa bàn di tích lịch sử, địa hình rừng núi, hệ thống hang động, căn cứ ATK tại các huyện Chợ Đồn, Ngân Sơn, Bạch Thông, Ba Bể, Na Rì và thị xã Bắc Kạn.
- Phương pháp phỏng vấn nhân chứng lịch sử: Thu thập, đối chiếu lời kể và hồi ức của các cán bộ lão thành cách mạng tại địa phương nhằm bổ sung và kiểm chứng các tư liệu thành văn.
Nguồn tư liệu sử dụng
- Tư liệu lưu trữ gốc: Các báo cáo định kỳ và chuyên đề về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa - xã hội của Bắc Kạn và Liên khu Việt Bắc (1942 - 1954) được khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lưu trữ Trung ương Đảng, Ban Nghiên cứu Lịch sử Tỉnh ủy Bắc Kạn, Ban Nghiên cứu Lịch sử Tỉnh ủy Thái Nguyên, Ban Tổng kết Lịch sử - Công tác Đảng - Công tác Chính trị Quân khu I, Thư viện Tỉnh đội Bắc Kạn.
- Văn kiện và tác phẩm kinh điển: Các văn kiện của Đảng, tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng...
- Tài liệu hồi ký, địa chí và lịch sử địa phương: Hồi ký cách mạng của các đồng chí lãnh đạo, lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn, lịch sử Đảng bộ các huyện Chợ Đồn, Bạch Thông, Ba Bể, Na Rì, thị xã Bắc Kạn và các ấn phẩm lịch sử lực lượng vũ trang.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án
Chương này dành trọn vẹn để phân tích hiện trạng nghiên cứu về căn cứ địa Việt Bắc và vị trí của tỉnh Bắc Kạn. Tác giả đã chia các công trình thành 3 nhóm: các công trình đề cập đến chủ trương, đường lối của Đảng về căn cứ địa; các công trình nghiên cứu chung về Việt Bắc và cuộc kháng chiến; các công trình nghiên cứu trực tiếp liên quan đến Bắc Kạn. Qua phân tích, chương 1 khẳng định giá trị kế thừa của các nghiên cứu đi trước về mặt số liệu, sự kiện, đồng thời chỉ ra khoảng trống về việc đánh giá vị trí, vai trò của Bắc Kạn trong mối quan hệ hữu cơ với toàn thể căn cứ địa Việt Bắc suốt 12 năm (1942 - 1954).
Chương 2: Tỉnh Bắc Kạn trong căn cứ địa cách mạng Việt Bắc từ năm 1942 đến cuối năm 1946
Chương 2 phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống lịch sử và quá trình hình thành cơ sở cách mạng tại Bắc Kạn:
+-------------------------------------------------------------------------------+
| ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BẮC KẠN (THEO LUẬN ÁN) |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
| Yếu tố | Đặc trưng cụ thể |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
| Địa hình | Nằm gọn trong hai cánh cung lớn: sông Gâm và Ngân Sơn. |
| | Núi đá xen núi đất, đỉnh Phia Lẻnh cao 1527 m (dãy |
| | Phia Boóc). Nhiều hang động tại Bạch Thông, Chợ Đồn... |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
| Thủy văn | Khởi nguồn 4 con sông lớn: sông Cầu, sông Bắc Giang, |
| | sông Đáy, sông Năng. Mùa mưa (tháng 3 đến tháng 8). |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
| Tài nguyên khoáng | Mỏ kẽm, chì, mangan ở Chợ Đồn; vàng sa khoáng ở |
| sản | Ngân Sơn, Na Rì, Bạch Thông, Chợ Rã. |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
| Dân cư | Đồng bào Tày có mặt sớm nhất; sau đó là Kinh, Dao, |
| | Nùng, Hoa, Sán Chay, Mông. Nếp sống đoàn kết cộng đồng. |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
| Giao thông | Quốc lộ 3 chạy dọc tỉnh; Quốc lộ 279 và mạng lưới đường |
| | liên huyện. |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
Về truyền thống chống Pháp, luận án điểm lại các phong trào tiêu biểu:
- Phong trào Phùng Bá Chỉ (Bá Kỳ) đánh địch tại Chợ Mới ngày 17-1-1889, đẩy lui 2 đợt tấn công của quân Pháp, buộc địch chịu thiệt hại 97 sĩ quan và binh lính tử trận, bị thương.
- Phong trào của đồng bào Dao do Mã Sinh Long (Mã Mang) chỉ huy phục kích đoàn tàu vận tải trên sông Cầu lên Chợ Mới.
- Cuộc nổi dậy của đồng bào Dao tại Tân Sơn và Cao Sơn (Bạch Thông) năm 1904 chống sưu thuế.
- Cuộc phá ngục thị xã Bắc Kạn do Lý Thảo Long chỉ huy vào tháng 10 năm 1914, làm chủ thị xã từ sáng đến chiều.
- Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên tháng 8 năm 1917 do Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn lãnh đạo, trong đó hơn một nửa trong số 600 nghĩa quân là công nhân khai mỏ tại Thái Nguyên và Bắc Kạn.
Về tiến trình cách mạng từ năm 1942 đến năm 1946:
- Năm 1942, những cơ sở cách mạng đầu tiên được gây dựng tại Bắc Kạn (khu vực Ngân Sơn, Chợ Đồn, Ba Bể), gắn liền với sự phát triển của các tuyến xung phong Nam tiến, Tây tiến và Bắc tiến.
- Giai đoạn 1943 - 3/1945, cơ sở Việt Minh mở rộng nhanh chóng, liên kết chặt chẽ với căn cứ Cao Bằng và Thái Nguyên.
- Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (09-03-1945) và sự ra đời của Khu giải phóng Việt Bắc (tháng 6/1945), Bắc Kạn tiến hành khởi nghĩa từng phần, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.
- Từ tháng 8/1945 đến cuối năm 1946, Đảng bộ và nhân dân Bắc Kạn củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, chuẩn bị cơ sở vật chất sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc.
Chương 3: Tỉnh Bắc Kạn trong căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc từ cuối năm 1946 đến năm 1954
Chương 3 tái hiện toàn diện cuộc kháng chiến bảo vệ và xây dựng hậu phương căn cứ địa:
- Chiến dịch Thu - Đông năm 1947: Quân Pháp nhảy dù đánh chiếm thị xã Bắc Kạn và thị trấn Chợ Mới (ngày 07-10-1947) nhằm triệt phá cơ quan đầu não kháng chiến. Quân và dân Bắc Kạn đã bám sát địa bàn, tổ chức đánh phục kích tiêu hao sinh lực địch trên Quốc lộ 3, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho các cơ quan Trung ương đóng tại Chợ Đồn.
- Tiến công giải phóng Bắc Kạn (1948 - 1949): Quân dân Bắc Kạn phối hợp với bộ đội chủ lực (tiêu biểu là Trung đoàn 72) đẩy mạnh chiến tranh du kích, cô lập quân Pháp chiếm đóng. Ngày 09 tháng 8 năm 1949, thực dân Pháp buộc phải rút chạy khỏi thị xã Bắc Kạn; Bắc Kạn trở thành tỉnh đầu tiên được giải phóng trong kháng chiến chống Pháp.
- Xây dựng và phát triển hậu phương (1950 - 1954): Sau giải phóng, Bắc Kạn tập trung xây dựng chính quyền dân chủ mới, đẩy mạnh sản xuất tự cấp tự túc, khai thác quặng mỏ phục vụ các công binh xưởng sản xuất vũ khí; đấu tranh tiễu phỉ giữ vững an ninh trật tự vùng biên viễn; huy động nhân lực, lương thực chi viện trực tiếp cho Chiến dịch Biên giới (1950) và Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).
+-------------------------------------------------------------------------------+
| CÁC MỐC LỊCH SỬ TIÊU BIỂU TẠI BẮC KẠN (GIAI ĐOẠN 1942 - 1954) |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
| Thời gian | Sự kiện / Ý nghĩa lịch sử |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
| Năm 1942 | Xuất hiện những cơ sở cách mạng đầu tiên tại Bắc Kạn; |
| | nối liền tuyến hành lang Nam tiến - Bắc tiến. |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
| Tháng 6/1945 | Bắc Kạn tham gia Khu giải phóng Việt Bắc; chuẩn bị lực |
| | lượng tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám. |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
| Tháng 10/1947 | Quân dân Bắc Kạn chiến đấu chống cuộc tấn công Thu - |
| | Đông của Pháp; bảo vệ an toàn cho cơ quan Trung ương. |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
| Ngày 09/8/1949 | Tỉnh Bắc Kạn hoàn toàn giải phóng (tỉnh đầu tiên của cả |
| | nước được giải phóng trong kháng chiến chống Pháp). |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
| 1950 - 1954 | Củng cố hậu phương căn cứ địa, tiễu phỉ, chi viện sức |
| | người sức của cho Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
Chương 4: Vị trí và vai trò của tỉnh Bắc Kạn trong căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1954
Chương này đúc kết toàn diện 4 nhóm vai trò then chốt của tỉnh Bắc Kạn:
- Bắc Kạn với việc mở rộng các căn cứ cách mạng và sự ra đời Khu giải phóng Việt Bắc: Là địa bàn cầu nối giao thông then chốt giữa căn cứ Cao Bằng với Thái Nguyên, Tuyên Quang và Lạng Sơn, tạo nên thế liên hoàn của căn cứ địa cách mạng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa.
- Bắc Kạn - Một trong những trung tâm quan trọng xây dựng ATK Trung ương: Do vị thế hiểm trở, lòng dân giác ngộ sâu sắc, huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn) cùng với các huyện thuộc Thái Nguyên và Tuyên Quang hợp thành vùng An toàn khu Trung ương. Đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Lương Bằng... từng sống, làm việc và chỉ đạo kháng chiến.
- Bắc Kạn - Nơi thực hiện chế độ dân chủ mới khá sớm trong căn cứ địa Việt Bắc: Được giải phóng từ ngày 09/8/1949, Bắc Kạn là nơi tiến hành sớm các chính sách xây dựng chính quyền nhân dân, cải cách văn hóa - giáo dục, phát triển y tế cơ sở và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
- Bắc Kạn làm trọn nghĩa vụ hậu phương kháng chiến: Phát huy kinh tế tự cấp tự túc, cung cấp nông lâm thổ sản, bảo vệ kho tàng, công binh xưởng và huy động hàng ngàn lượt dân công, bộ đội phục vụ các chiến dịch quân sự lớn của cả nước.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên khôi phục một cách có hệ thống, toàn diện và khách quan toàn bộ tiến trình lịch sử tỉnh Bắc Kạn trong mối tương quan với căn cứ địa Việt Bắc giai đoạn 1942 - 1954.
- Làm rõ bản chất quy luật xây dựng căn cứ địa cách mạng của Đảng: xây dựng cơ sở quần chúng làm nền tảng, kết hợp địa thế hiểm trở tự nhiên với nhân tố lòng dân ("thiên thời, địa lợi, nhân hòa").
- Khẳng định và làm sáng tỏ vai trò kép của Bắc Kạn: vừa là tiền tuyến trực tiếp ngăn chặn mũi tấn công của quân Pháp, vừa là hậu phương chiến lược an toàn tuyệt đối cho cơ quan lãnh đạo tối cao của Đảng và Nhà nước.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Bổ sung nguồn sử liệu gốc được phân loại khoa học từ các trung tâm lưu trữ và tư liệu điền dã thực tế vào kho tàng lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc.
- Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước cho cán bộ, đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn.
- Làm tài liệu phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn giáo trình, bài giảng lịch sử địa phương tại Trường Chính trị, Trường Cao đẳng Cộng đồng và các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ nghiên cứu
- Tiếp tục sưu tầm, bảo tồn và số hóa các nguồn tài liệu lưu trữ, lời kể nhân chứng lịch sử liên quan đến ATK Chợ Đồn và các căn cứ cách mạng trên địa bàn tỉnh.
- Gắn kết công tác giáo dục lịch sử truyền thống với quy hoạch bảo tồn hệ thống di tích cách mạng kháng chiến phục vụ phát triển văn hóa - xã hội địa phương.
- Đưa nội dung lịch sử địa phương về vai trò căn cứ địa kháng chiến vào chương trình giảng dạy chính khóa tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào không gian tỉnh Bắc Kạn đặt trong mối quan hệ với các tỉnh lân cận thuộc Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1954; các giai đoạn lịch sử khác chỉ mang tính chất liên hệ bối cảnh.
- Một số tư liệu thành văn giai đoạn đầu (1942 - 1945) bị thất lạc do hoàn cảnh bí mật và chiến tranh kéo dài, phải dựa vào việc tổng hợp lời kể của nhân chứng lịch sử và tài liệu hồi ký.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng hướng nghiên cứu so sánh về phương thức tổ chức hậu cần, công binh xưởng và đời sống kinh tế tự cấp tự túc giữa Bắc Kạn với các tiểu vùng căn cứ khác trong Liên khu Việt Bắc (như Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn).
- Nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử từng tuyến đường vận tải kháng chiến (như Quốc lộ 3, Quốc lộ 279) và các trận đánh du kích cụ thể của Trung đoàn 72 bảo vệ vùng giải phóng Bắc Kạn giai đoạn 1948 - 1949.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lịch sử: Là tài liệu chuyên khảo về phương pháp tiếp cận nghiên cứu lịch sử địa phương trong tương quan với căn cứ địa liên vùng.
- Giảng viên và giáo viên lịch sử: Sử dụng trực tiếp dữ liệu của chương 2, chương 3 và chương 4 để biên soạn bài giảng, giáo trình lịch sử địa phương tỉnh Bắc Kạn và lịch sử kháng chiến chống Pháp.
- Cán bộ quản lý văn hóa và Ban Tuyên giáo các cấp: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng hồ sơ di tích lịch sử ATK Chợ Đồn, bảo tồn các địa điểm lịch sử và triển khai các chương trình giáo dục truyền thống cách mạng cho đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao Bắc Kạn được coi là cầu nối then chốt trong việc hình thành căn cứ địa Việt Bắc giai đoạn 1942 - 1945?
Bắc Kạn nằm ở vị trí trung tâm, tiếp giáp Cao Bằng ở phía Bắc, Thái Nguyên ở phía Nam, Lạng Sơn ở phía Đông và Tuyên Quang ở phía Tây. Trong thời kỳ 1942 - 1945, Bắc Kạn là nơi gặp gỡ của các đội xung phong Nam tiến (từ Cao Bằng xuống), Bắc tiến (từ Thái Nguyên lên) và Tây tiến (từ Lạng Sơn sang), nối liền các cơ sở cách mạng riêng lẻ thành một dải căn cứ liên hoàn rộng lớn, tạo tiền đề cho sự ra đời của Khu giải phóng Việt Bắc vào tháng 6 năm 1945.
2. Địa bàn huyện Chợ Đồn giữ vị trí như thế nào đối với An toàn khu (ATK) Trung ương?
Từ cuối năm 1946, huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn) được Trung ương chọn tiếp nhận nhiều cơ quan, xưởng máy, kho tàng đầu não. Chợ Đồn cùng với Định Hóa (Thái Nguyên) và Sơn Dương (Tuyên Quang) tạo thành vùng tam giác ATK Trung ương. Đây là nơi các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước gồm Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Lương Bằng trực tiếp sống, làm việc và chỉ đạo cuộc kháng chiến.
3. Sự kiện giải phóng tỉnh Bắc Kạn ngày 09 tháng 8 năm 1949 có ý nghĩa gì?
Bắc Kạn là tỉnh đầu tiên của cả nước được giải phóng hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Việc giải phóng Bắc Kạn đã xóa bỏ hoàn toàn bàn đạp chiếm đóng của Pháp ở trung tâm Việt Bắc, mở rộng hành lang an toàn cho ATK Trung ương, biến Bắc Kạn thành hậu phương vững chắc và là nơi thực hiện sớm chế độ dân chủ mới trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội.
4. Luận án đã khai thác những nguồn tư liệu gốc nào để bảo đảm tính xác thực lịch sử?
Tác giả đã khai thác các báo cáo lưu trữ định kỳ từ năm 1942 đến năm 1954 lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lưu trữ Trung ương Đảng, tài liệu của Tỉnh ủy Bắc Kạn, Tỉnh ủy Thái Nguyên, Quân khu I và Tỉnh đội Bắc Kạn; kết hợp với tư liệu điền dã thực địa tại các huyện và phỏng vấn trực tiếp các cán bộ lão thành cách mạng tại địa phương.
5. Những đặc điểm tự nhiên nào của Bắc Kạn đã tạo thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ địa cách mạng?
Bắc Kạn nằm trong hai cánh cung núi lớn (sông Gâm và Ngân Sơn) với dãy Phia Boóc cao 1527 m, có nhiều hang động đá vôi hiểm trở tại Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Rã giúp cất giấu lương thực, kho tàng và bảo đảm bí mật trước phi pháo của địch. Bên cạnh đó, hệ thống thung lũng màu mỡ dọc các lưu vực sông Cầu, sông Bắc Giang, sông Năng cùng nguồn lâm thổ sản phong phú và khoáng sản (chì, kẽm, mangan) đã bảo đảm nền kinh tế tự cấp tự túc phục vụ kháng chiến lâu dài.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Âu Thị Hồng Thắm là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo, tái hiện toàn diện và có hệ thống quá trình hình thành, phát triển của tỉnh Bắc Kạn trong căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1954. Bằng phương pháp lịch sử và logic kết hợp nguồn tư liệu lưu trữ phong phú, luận án đã làm sáng tỏ vị trí cầu nối chiến lược, vai trò hạt nhân ATK Trung ương, ý nghĩa của sự kiện giải phóng tỉnh Bắc Kạn năm 1949 và những đóng góp to lớn của quân dân Bắc Kạn cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. Công trình là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc cho công tác nghiên cứu lịch sử dân tộc, giảng dạy lịch sử địa phương và giáo dục truyền thống yêu nước tại vùng căn cứ cách mạng Việt Bắc.