CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KHOA HỌC QUÂN SỰ 1.1 Khái niệm về khoa học quân sự. Khoa học quân sự là hệ thống tri thức về các quy luật đấu tranh vũ trang, về các phương pháp chuẩn bị và tiến hành các cuộc đấu tranh vũ trang đó. Nó nghiên cứu các quá trình phát triển khách quan của các trang bị và nghệ thuật quân sự, các nguyên lý xây dựng, huấn luyện và giáo dục các lực lượng vũ trang, trang bị kĩ thuật quân sự và đảm bảo toàn diện cho các lực lượng vũ trang tổng kết kinh nghiệm lịch sử quân sự, đồng thời sử dụng những thành quả và những kết luận của các môn khoa học khác, có tác dụng quan trọng trong việc đối với sự củng cố khả năng quốc phòng của đất nước. Những quan điểm lí luận quân sự đầu tiên được hình thành cùng với sự ra đời của chiến tranh.
Những công trình lí luận quân sự đầu tiên xuất hiện vào cuối thời chiếm hữu nô lệ. “Binh pháp Tôn Tử” (thế kỉ V TCN) là binh pháp cổ nhất thế giới. Ở thời cổ Hy Lạp, những vấn đề cơ bản về lí luận quân sự được trình bày trong các tác phẩm dưới dạng lịch sử quân sự của Hêrôđôtos và Xênôphôn (khoảng 425 và 354 TCN)… Đi đầu trong việc hình thành và phát triển nền khoa học quân sự xã hội chủ nghĩa là khoa học quân sự Xô Viết mà người đặt nền móng cho nó là V. Khoa hoc quân sự Việt Nam nghiên cứu quy luật của chiến tranh và khởi nghĩa vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân chuẩn bị lực lượng vũ trang và đất nước cho chiến tranh, phương thức tiến hành chiến tranh, khởi nghĩa vũ trang, chủ yếu là đấu tranh vũ trang trong chiến tranh.
Khoa học quân sự Việt Nam trải qua quá trình hình thành của các cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước của dân tộc ta trong mấy ngàn năm lịch sử, từ tổng kết kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh ở Việt Nam và tiếp thu những tinh hoa quân sự của nhân loại. Những tri thức về chiến tranh và khởi nghĩa ở nước ta được đúc kết trong các binh thư cổ, tiêu biểu là: “Binh thư yếu lược” (thế kỉ XIII). Ngoài ra còn được 7 phản ánh trong một số tác phẩm khác như “Bình Ngô đại cáo”, “Quân trung từ mệnh tập” (thế kỉ XV). Đặc điểm của khoa học quân sự Việt Nam là nền khoa học quân sự phục vụ cho mục đích giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc, nền khoa học quân sự của một nước tương đối nhỏ đã liên tiếp đánh thắng những nước lớn mạnh xâm lược, khoa học quân sự toàn dân đánh giặc có lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, thực hiện phương châm càng đánh càng mạnh, vận dụng sáng tạo linh hoạt các hình thức và phương thức tiến hành chiến tranh và đấu tranh Khoa học quân sự là hệ thống tri thức về các quy luật đấu tranh vũ trang, về các phương pháp chuẩn bị và tiến hành các cuộc đấu tranh vũ trang đó.
Nó nghiên cứu các quá trình phát triển khách quan của các trang bị và nghệ thuật quân sự, các nguyên lý xây dựng, huấn luyện và giáo dục các lực lượng vũ trang, trang bị kĩ thuật quân sự và đảm bảo toàn diện cho các lực lượng vũ trang tổng kết kinh nghiệm lịch sử quân sự, đồng thời sử dụng những thành quả và những kết luận của các môn khoa học khác, có tác dụng quan trọng trong việc đối với sự củng cố khả năng quốc phòng của đất nước. Những quan điểm lí luận quân sự đầu tiên được hình thành cùng với sự ra đời của chiến tranh. Những công trình lí luận quân sự đầu tiên xuất hiện vào cuối thời chiếm hữu nô lệ. “Binh pháp Tôn Tử” (thế kỉ V TCN) – là binh thư cổ nhất thế giới.
Ở thời cổ Hi Lạp, những vấn đề cơ bản về lí luận quân sự được trình bày trong các tác phẩm dưới dạng lịch sử quân sự của Hêrôđôtos và Xênôphôn (khoảng 425 và 354 TCN)… Đi đầu trong việc hình thành và phát triển nền khoa học quân sự xã hội chủ nghĩa là khoa học quân sự Xô Viết mà người đặt nền móng cho nó là V. Khoa học quân sự Việt Nam nghiên cứu quy luật của chiến tranh và khởi nghĩa vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chuẩn bị lực lượng vũ trang và đất nước cho chiến tranh, phương thức tiến hành chiến tranh, khởi nghĩa vũ trang, chủ yếu là đấu tranh vũ trang trong chiến tranh. Khoa học quân sự Việt Nam trải qua quá trình hình thành của các cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước của dân tộc ta 8 trong mấy ngàn năm lịch sử, từ tổng kết kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh ở Việt Nam và tiếp thu những tinh hoa quân sự của nhân loại. Những tri thức về chiến tranh và khởi nghĩa ở Việt Nam được đúc kết trong các binh thư cổ, tiêu biểu là vũ trang phù hợp với đặc điểm nước ta.
Những biện pháp quan trọng của khoa học quân sự Việt Nam là : lí luận chung khoa học quân sự, lí luận nghệ thuật quân sự, lí luận tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng giáo dục và huấn luyện quân sự… Ngoài ra còn có các chuyên ngành trong các khoa học có liên quan và phục vụ cho quân sự như lực lượng trang bị, địa lý quân sư… Khoa học quân sự bao gồm tư tưởng quân sự, nghệ thuật quân sự và kĩ thuật quân sự. Nghệ thuật quân sự, lịch sử quân sự, những nguyên lý xây dựng các lưc lượng vũ trang, những lý luận của việc huấn luyện và giáo dục bộ đội là những bộ phận hợp thành của khoa học quân sự. Tư tưởng quân sự là lịch sử hình thành và phát triển hệ thống quan điểm về quân sự và các vân đề liên quan đến quân sự của các nhà quân sự, các giai cấp, chính đảng trong lịch sử. Tư tưởng quân sự Việt Nam hình thành trong quá trình đấu tranh chống xâm lược của phong kiến phương Bắc, chống chủ nghĩa đế quốc thực dân, đặc biệt được phát triển phong phú từ khi Đảng Cộng sản ra đời lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Thời trung đại nước ta xuất hiện những tư tưởng quân sự nổi tiếng như tư tưởng quân sự Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông… Trong thời hiện đại, tư tưởng Hồ Chí Minh là hạt nhân của tư tưởng và đường lối quân sự của Đảng ta. Tư tưởng quân sự có nội dung rộng lớn, mang tính toàn diện và tổng hợp cao. Nó không chỉ đề cập đến lĩnh vực quân sự mà gồm cả mọi hoạt động về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại có liên quan đến quân sự. Do đó, nghiên cứu tư tưởng quân sự không chỉ giới hạn trong việc xem xét quá trình tổ chức, chuẩn bị và tiến hành chiến tranh àm còn phải có cái nhìn bao quát từ mục đích chính trị, an 9 ninh – quốc phong.
Nghiên cứu lịch sử tư tưởng quân sự phải làm rõ nội dung, bản chất, đặc trưng của các quan điểm, học thuyết quân sự. Nghệ thuật quân sự là lĩnh vực bậc nhất của khoa học quân sự. Nó được ra đời cùng với sự nảy sinh các cuộc chiến tranh và phát triển tuỳ thuộc vào phương thức sản xuất, các hình thức tiến hành chiến tranh (chiến lược) và các hoạt động quân sự (nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật). Nghệ thuật quân sự là lý luận và thực tiễn chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nói chung, tiến hành các chiến dịch và trận đánh đó là nghệ thuật sử dụng các lực lượng và các phương tiện để đạt được thắng lợi, là tài thao lược của các cán bộ chỉ huy và của tất cả binh sĩ nhằm đánh bại kẻ thù.
Kĩ thuật quân sự bao gồm vũ khí, các phương tiện trang bị kĩ thuật của lực lượng vũ trang. Vũ khí, kĩ thuật quân sự Việt Nam ra đời sớm chủ yếu do nhu cầu đánh giặc giữ nước. Nó trải qua một quá trình phát triển từ thô sơ đến hiện đại, từ bạch khí đến hoả khí. Vũ khí trong các cuộc chiến tranh nhân dân chủ yếu do nhân dân tự chế tạo, tự trang bị.
Đối với vũ khí kĩ thuật quân sự thời hiện đại, trong ba mươi năm chống Pháp một phần lấy được của địch phần quan trọng được các nước xã hội chủ nghĩa anh em chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc viện trợ những loại tương đối hiện đại và hiện đại. Sự phát triển của kĩ thuật quân sự gắn liền với sự phát triển của trình độ sản xuất và trí tuệ con người. Nghiên cứu lịch sử kĩ thuật quân sự luôn luôn đặt trong mối quan hệ của nó với trình độ sản xuất xã hội, giữa con người và vũ khí, giữa kĩ thuật và chiến thuật, giữa cơ sở vật chất kĩ thuật với sự phát triển của nghệ thuật quân sự.2 : Vài nét về khoa học quân sự Đại Việt từ thế kỉ III TCN đến trước thế kỉ X Trong suốt hơn 11 thế kỉ bị đô hộ của phong kiến phương Bắc, kinh tế và xã hội nước ta có những biến đổi lớn lao nhưng chúng ta vẫn không hề bị đồng hoá và mất nước. Để làm nên được điều kì diệu đó chính những xóm làng cổ truyền của người Việt đã lưu giữ sức mạnh văn hoá Việt Nam, nơi những con người cấu kết đùm bọc lẫn nhau tạo nên sức mạnh bền chặt của ách thống trị đô hộ.
Xóm làng không chỉ lưu giữ những giá trị văn hoá cổ truyền mà còn mở rộng tiếp thu những yếu tố văn hoá ngoại sinh tiên tiến kể cả nền văn hoá chân chính, đẹp đẽ của người Trung Hoa. Nhờ sức mạnh bền chặt của nền văn hoá mà hạt nhân cơ bản là chủ nghĩa yếu nước, tinh thần quật cường, cố kết, tương thân tương ái, vừa dũng cảm, vừa thông minh, sáng tạo đã là nhân tố quyết định. Cũng có thể nói đây là giai đoạn hình thành và bắt đầu phát triển của khoa học quân sự Việt Nam trong đó chủ yếu là nghệ thuật quân sự của khởi nghĩa, chiến tranh giữ nước và được thể hiện một cách khá rõ qua nghệ thuật tổ chức chiến tranh du kích và chiến tranh toàn dân.1 Tư tưởng và nghệ thuật quân sự 1. Đối tượng tác chiến của dân tộc ta lúc này là chủ nghĩa phong kiến phương Bắc, thế lực lớn mạnh nhất của phương Đông có trình độ văn minh cao, quân đội hùng mạnh và dạn dày kinh nghiệm chiến thuật trong đấu tranh giành quyền lực nội bộ và chinh phục bên ngoài.