Chương 1: VẤN ĐỀ LI KHAI DÂN TỘC 1. Khái niệm Nhìn chung, giới nghiên cứu có quan điểm tương đối thống nhất về thuật ngữ li khai dân tộc. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1994 và một số từ điển khác của Việt Nam xuất bản từ năm 2000 đến nay, từ li khai là tách ra khỏi, lìa bỏ một tổ chức, một đảng phái hay những tư tưởng quan điểm chính trị nào đó. Hiểu theo nghĩa này, li khai dân tộc chỉ hiện tượng một dân tộc, hay một nhóm dân tộc tách ra khỏi một quốc gia dân tộc nhằm thực hiện một nhà nước độc lập hay tự trị.
Theo Từ điển Oxford advanced leaner's xuất bản năm 1992 của Anh thì li khai (secede) nghĩa là từ bỏ một cái gì đó, rút ra khỏi tư cách hội viên của một tổ chức, một quốc gia. Với từ này, Encyclopedia Encatar của Microsoft (Mỹ) có định nghĩa là việc chính thức rút khỏi tư cách thành viên của một tổ chức, một nhà nước hay một liên minh. Từ nội hàm của khái niệm li khai qua một số từ điển chúng tôi đồng ý với cách diễn đạt của Hao Shi Yuan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Dân tộc Trung Quốc trong bài viết: "Li khai dân tộc và chủ nghĩa khủng bố” 20, tr. Li khai dân tộc là thuật ngữ chỉ việc bên trong một quốc gia độc lập có chủ quyền, có lãnh thổ toàn vẹn, do mâu thuẫn về vấn đề dân tộc, dưới tác động của các nhân tố bên trong, bên ngoài, một số thế lực trong các dân tộc phi chủ thể hoặc các dân tộc thiểu số đưa ra các yêu sách chính trị, tiến hành hoạt động bạo lực, thậm chí thực hiện các hành động chống đối quân sự để đòi thành lập nhà nước độc lập hay tự trị.
Căn cứ lý luận của các thế lực li khai dân tộc chủ yếu là nguyên tắc tự quyết dân tộc, lấy nhân quyền làm cái cớ để truyền bá và kích động, từ đó họ tìm kiếm địa vị chính trị hợp pháp ở trong nước và ngoài nước, kể cả tranh thủ một số thế lực quốc tế nào đó, nhằm thực hiện mục tiêu chính trị là thành lập nhà nước độc lập hoặc tự trị cao độ. Li khai dân tộc là một trong những hình thức biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, nhưng không đồng nhất với chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc là hệ tư tưởng chính trị và biểu hiện tâm lý đòi hỏi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc hình thành và phát triển gắn liền với quá trình đấu tranh để xây dựng và bảo vệ cộng đồng quốc gia dân tộc.
Tuỳ tình hình đặc điểm dân tộc, giai cấp và lịch sử của từng dân tộc, 5 z chủ nghĩa dân tộc mang dấu ấn dân tộc và giai cấp khác nhau. Có chủ nghĩa dân tộc truyền thống thể hiện lòng yêu nước lâu đời của một dân tộc, có chủ nghĩa dân tộc tư sản, có chủ nghĩa dân tộc Xô Viết, có chủ nghĩa dân tộc sô vanh nước lớn, có chủ nghĩa dân tộc cách mạng. Li khai dân tộc và chủ nghĩa dân tộc có điểm chung là đều gắn liền với vấn đề dân tộc, một trong những nội dung quan trọng trong đời sống chính trị xã hội loài người. Đến cuối những năm 1980, theo đà tiêu vong của chủ nghĩa thực dân, về cơ bản thế giới đã hình thành trên 160 quốc gia có chủ quyền ổn định.
Ngoài một số vùng đất uỷ trị của Liên Hợp Quốc, các nước thuộc địa cũ của các cường quốc về cơ bản đã được độc lập. Do nguyên nhân lịch sử, đại đa số các quốc gia trên thế giới đều do nhiều dân tộc hình thành nên và về cơ bản đều duy trì được cục diện thống nhất. Tuy vậy, ở một số quốc gia và khu vực, những hiện tượng li khai dân tộc vẫn phát sinh và phát triển. Có một điều cần phân biệt là, do tàn dư thống trị của chủ nghĩa thực dân còn chưa hoàn toàn được xóa bỏ, nên phong trào giải phóng dân tộc ở một số nơi còn tiếp tục chịu ảnh hưởng nặng nề.
Tuy nhiên, nó không thuộc phạm trù li khai dân tộc. Thí dụ, vấn đề thành lập nhà nước Palestine độc lập ở Trung Đông. Phong trào xây dựng nhà nước độc lập của New Caledonia, một vùng lãnh thổ hải ngoại thuộc Pháp ở Tây Nam Thái Bình Dương. Việc Đông Timo tách khỏi Inđônêsia để thành lập nhà nước độc lập cũng không thuộc vấn đề li khai dân tộc.
Việc sử dụng lực lượng quân đội của Tổng thống Inđônêsia Suharto để giành lấy Đông Timo sau khi các lực lượng thực dân Bồ Đào Nha rút đi đã làm cho tiến trình tự quyết dân tộc của khu vực này bị trì hoãn. Do đó, việc Liên Hợp Quốc đưa vấn đề Đông Timo vào phạm vi giải quyết của mình là chuyện bình thường(1). Hiện tượng li khai dân tộc không những tồn tại ở các nước đang phát triển, mà còn tồn tại ở các nước phát triển, có tính phổ biến nhất định. Các thế lực li khai dân tộc (1) Về vấn đề Đông Timo có 2 loại ý kiến trái ngược nhau.
Loại thứ nhất cho rằng Đông Timo là kết quả của một phong trào li khai thành công. Loại thứ hai như bài viết đã trình bày. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Đông Timo vẫn nằm dưới sự cai trị của Bồ Đào Nha cho tới năm 70 của thế kỷ XX. Khi Bồ Đào Nha tuyên bố rút khỏi Đông Timo, Tổng thống Inđônêsia Suharto đã có ý định sáp nhập Đông Timo vào Inđônêsia.
Ông tìm cách ngăn cản Đông Timo độc lập. Ngày 1 tháng 7 năm 1976 Suharto sử dụng vũ lực sáp nhập Đông Timo vào Inđônêsia. Do khác nhau về ngôn ngữ, tôn giáo, sau mấy trăm năm thống trị của Bồ Đào Nha, người dân Đông Timo luôn đấu tranh đòi độc lập, chống lại chính sách hà khắc của Tổng thống Suharto. Ngày 30 tháng 8 năm 1999 gần 80% dân số Đông Timo đã bỏ phiếu tán thành độc lập.
Ngày 4 tháng 9 năm 1999 ngay sau khi kết quả trưng cầu dân ý được công bố, quân đội Inđônêsia đựoc lệnh đàn áp quyết liệt. Cộng đồng thế giới đã ủng hộ nguyệt vọng độc lập của nhân dân Đông Timo. Liên Hợp Quốc đã đưa lực lượng gìn giữ hòa bình tới duy trì trật tự ở Đông Timo. Ngày 30 tháng 8 năm 2001 cử tri Đông Timo đi bỏ phiếu bầu Hội đồng lập hiến.
Tiếp sau đó người dân Đông Timo đã tiến hành bầu cử tổng thống lập ra một nhà nước mới ở Đông Nam Á. 6 z tồn tại bên trong các quốc gia có chủ quyền hiện tại, về cơ bản thuộc về các thế lực chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong các dân tộc phi chủ thể hoặc các dân tộc thiểu số. Họ thường tự xưng là đại biểu cho lợi ích của dân tộc mình, đòi thực hiện các quyền tự quyết dân tộc, từ đó tạo ra thách thức đối với sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia độc lập có chủ quyền. Xét về mặt các quốc gia trên thế giới giới hiện tại lấy nhà nước đa dân tộc làm chủ thể thì các thế lực li khai dân tộc trong cộng đồng quốc tế và ở các quốc gia liên quan là không có tính hợp lý và hợp pháp.
Nhìn chung các dân tộc phi chủ thể hay các dân tộc thiểu số ở các nước có hiện tượng li khai dân tộc đều thuộc những quần thể yếu thế. Tức là về các mặt địa vị chính trị, địa vị kinh tế, ảnh hưởng văn hóa, quy mô dân số, tín ngưỡng tôn giáo và phong tục tập quán đều ở trạng thái không chủ đạo nên ngoài việc thông qua cơ chế chính trị để thực hiện mục tiêu độc lập ở một số quốc gia, các thế lực li khai dân tộc đều thông qua phương thức nặc danh, bí mật để tạo ra các vụ việc. Cũng có khi họ ngầm hoạt động phá hoại cơ sở hạ tầng vật chật như cầu cống, giao thông, nhà cửa, trạm kiểm soát. Một số thế lực li khai còn có phương thức hoạt động theo kiểu chiến tranh du kích, tiến hành ám sát, bắt cóc, tập kích vào các cơ sở dân sự, quân sự ở quy mô lớn.
Thậm chí họ còn dùng cả những phương thức có tính cực đoan và biện pháp của chủ nghĩa khủng bố để nhằm mục đích tạo ra tình trạng bất ổn trong xã hội, gây sức ép về chính trị, thu hút sự quan tâm của dư luận và sự can thiệp của quốc tế. Mục tiêu cuối cùng của các thế lực li khai là đạt tới tư cách đàm phán, khiến nhà nước phải nhượng bộ và thừa nhận địa vị hợp pháp của họ. Li khai dân tộc và xung đột dân tộc, tộc người là hai vấn đề khác nhau mặc dù chúng đều xuất phát từ chủ nghĩa dân tộc và liên quan đến vấn đề dân tộc. Vấn đề xung đột dân tộc, tộc người là một hiện tượng lịch sử có từ hàng ngàn năm nay, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của mỗi dân tộc.
Xung đột dân tộc, tộc người có thể dẫn đến chiến tranh với các khả năng đồng hóa, hợp nhất, thống nhất hoặc li khai dân tộc. Nhân loại không thể đếm xuể các cuộc xung đột dân tộc, tộc người từ xưa đến nay. Nhưng không phải bất kỳ một xung đột dân tộc, tộc người nào cũng dẫn đến li khai dân tộc. Li khai dân tộc chỉ diễn ra khi một quốc gia đa dân tộc đã hình thành và gắn liền với lịch sử hiện đại từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Tình hình li khai dân tộc ở các khu vực trên thế giới. 7 z Hiện tượng li khai dân tộc không chỉ diễn ra ở một khu vực mà còn diễn ra ở nhiều khu vực trên thế giới. Nó không chỉ phát sinh, phát triển sau chiến tranh lạnh mà đã ăn sâu bén rễ ngay từ trong chiến tranh lạnh. Có điều vấn đề li khai dân tộc đã bị chìm đi bởi sự đối đầu căng thẳng giữa hai phe, đứng đầu là hai siêu cường Liên Xô và Mỹ.
Ở châu Âu, châu lục bao gồm gần 90 dân tộc, tộc người có ngôn ngữ dân tộc riêng, là cơ sở cho sự hình thành 45 quốc gia độc lập. Sức mạnh lớn nhất trong lịch sử châu Âu hiện đại là chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc đã đem lại cho châu Âu cả sự thống nhất lẫn chia rẽ. Thống nhất trong Liên minh châu Âu, chia rẽ Đông - Tây trong chiến tranh lạnh.
Sau chiến tranh lạnh, xung đột bạo lực giữa các dân tộc, tôn giáo vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.